Khánh cầm tay tụng kinh có cán rút ngắn dài là pháp khí có công dụng là tạo sự nhịp nhàng hòa âm với người tụng đọc, để tránh việc người tụng trước người tụng sau. Ngoài ra Khánh đồng cầm tay còn tạo cho không gian phụng thờ thêm phần trang nghiêm, thanh tịnh, giúp người tụng niệm tập trung cao độ

Khánh đồng cầm tay tại thegioitamlinh.vn
- Chất liệu: đồng
- Màu sắc: vàng đồng
- Kích thước: đường kính chuông 5cm, chiều cao bình thường 15.5cm, rút ra chiều dài 32.5cm
* Khánh cầm tay là pháp khí không thể thiếu trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam. Khánh cầm tay có công dụng là tạo sự nhịp nhàng hòa âm với người tụng đọc, để tránh việc người tụng trước người tụng sau. Ngoài ra còn tạo cho không gian phụng thờ thêm phần trang nghiêm, thanh tịnh, giúp người tụng niệm tập trung cao độ, nhất nguyện hướng về cõi phật, cõi tiên.
* Khánh cầm tay là sản phẩm được thiết kế nhỏ gọn, dễ lau chùi, tiếng thanh và ngân vang nên khách hàng hoàn toàn yên tâm trong việc chọn mua sản phẩm.
* Hai bên bàn thờ, chuông để bên tay trái Phật, mõ bên tay phải.
* Trước khi bắt đầu thời kinh, người đánh chuông gia trì thỉnh 6 tiếng, để báo cho mọi người biết, chánh điện đã lên nhang đèn xong, mời mọi người giữ 6 căn thanh tịnh vào lễ Phật, tụng kinh.
* Khi chủ lễ vào vị trí, bắt đầu niệm hương, thỉnh 3 tiếng chuông, sau đó thấy chủ lễ xá thì thỉnh 1 tiếng chuông, khi lạy thì thỉnh 1 tiếng chuông, lúc trán chạm xuống nền thì dùng dùi chuông gõ vào vành chuông nhưng giữ lại trên vành chuông, không cho âm thanh ngân vang, gọi là dập.
* Sau khi Chủ lễ niệm bài Quán tưởng và Ðãnh lễ, hoặc trước bài Tán Lư Hương:Lư hương xạ nhiệt ... hoặc Tán Dương Chi:Dương Chi tịnh thủy ... hoặc Cử Tán: Chiên đàn hải ngạn ... thì khai chuông mõ như sau : Chuông thỉnh trước ba tiếng O O O (ba tiếng rời nhau)
Mõ gõ tiếp theo chuông bảy tiếng: – – – – – – – (bốn tiếng rời, hai tiếng liền nhau và một tiếng rời ra sau cùng)
Rồi chuông mõ hòa với nhau như sau O – O – O – – – – O (chuông thỉnh trước, mõ gõ sau, sau 3 tiếng thì chuông ngừng, mõ gõ tiếp theo tiếng thứ tư, năm sáu gõ liền nhau, tiếng thứ bảy của mõ, thì chuông thỉnh một lượt với tiếng mõ.
Trong mỗi bài kinh, kệ, chú mỗi một tiếng, mõ phải gõ một cái, chú luôn luôn đọc nhanh nên mõ phải gõ nhanh. Bất cứ bài nào cũng vậy mõ bắt đầu gõ vào tiếng thứ 2, thứ 4 và những tiếng tiếp theo, và khi còn 5 tiếng chấm dứt thì mõ gõ rất chậm, rồi gõ liền 2 cái ở tiếng áp chót và một cái ở tiếng chót.
Còn chuông thì trong bài dài, thỉnh thoảng thỉnh một tiếng chuông, những bài chú niệm ba lần, bảy lần, mười lần, hai mươi mốt lần, cứ mỗi lần hết là thỉnh một tiếng chuông, còn niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát ba lần, mười lần hay nhiều hơn, sau ba lần hay mười lần ấy mới thỉnh chuông (thường chú ý vào vị chủ lễ, khi thấy vị chủ lễ cuối đầu xá, đó là chấm dứt niệm chú hay chuyển sang niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát khác). Cuối mỗi bài kinh, kệ, chú thỉnh chuông vào tiếng thứ 5, thứ 3 và tiếng sau cùng.
********************************

CÔNG TY TNHH THẾ GIỚI TÂM LINH |THEGIOITAMLINH.VN