Nếu Giới được xem như là những bộ luật, điều luật nhằm định hướng người tu hành có những động thái, suy tư phù hợp với lẽ Đạo, thì việc Trai giới chính là hành động cụ thể nhằm thực hiện Giới một cách tinh nghiêm, cẩn trọng. Kẻ học Đạo trước cần tu trai. Tu trai hay Hành trai là những cử chỉ giúp bên ngoài không nhiễm trần cấu, bên trong ngũ tạng thanh lương, từ đó mà nuôi dưỡng chân tính, rèn luyện kiên tâm. Hành trai tinh nghiêm cẩn trọng, không phạm cấm giới sẽ được phúc “Dữ Đạo hợp chân” vậy. Trương Thiên Sư dạy: “Kẻ học Đạo không tu trai, mờ mịt giống như đi đêm mà không có đèn rọi”.
Biên soạn: Đạo sĩ Vô Danh Tử

Tiên tượng Lôi Tổ Phổ Hoá Thiên Tôn tại TheGioiTamLinh.vn
Trong Đạo giáo, kiến lập đàn tràng, trai tiếu lễ tụng, ngoài việc chuẩn bị đãng uế nơi chốn còn phải tẩy tịnh người vật. Toàn Chân Đãng Uế Khoa Nghi chép: “Thiết lự đàn tràng nội ngoại, nhân vật vãng lai, uế tạp chi khí, nan dĩ giáng cách cao chân”. Thiết nghĩ đàn tràng trong ngoài, người vật qua lại, uế khí hỗn tạp nên khó lòng mà thỉnh cao chân giáng hạ. Vậy nên, đàn tràng cần phải dùng pháp thủy mà tẩy đãng. Uế tạp bên ngoài dùng Mộc dục mà gột rửa, trọc nhơ bên trong tất lấy tu trai làm đầu!
“Trai”, tiếng Việt trại âm gọi là “Chay”. Thời nay, việc “Chay giới” được nhìn nhận trong tâm thức con người đa phần chỉ nói đến ăn uống (không phạm rượu thịt). Tuy nhiên, cần phải hiểu một cách toàn diện hơn rằng: Tu trai là việc thi hành trai giới, tuân thủ các giới luật tinh nghiêm hầu cầm giữ, chế khiển dục tình. Việc trai giới cần giữ tối thiểu 4 phương diện: Thực trai, Y trai, Trú trai và Ngôn trai.
Thứ nhất là Thực trai. Thực trai là chế khiển ăn uống. Việc ăn uống là đại sự trong đời. Ăn uống nhằm duy trì sự sống. Bất kể người hay vật, thiếu ăn thiếu uống cũng trở nên hao kiệt, úa tàn. Tu Thực trai cốt là để bản thân không trở nên bị động, phụ thuộc vào việc ăn uống mà sinh ra chướng ngại. Kẻ tu hành nuôi dưỡng lòng từ bi phần nào được thể hiện qua việc ăn chay - không sát sinh. Điều này còn giúp họ tránh được các ác nghiệp một cách trực tiếp hay gián tiếp. Thực trai còn là không ăn phi thời (ngoài bữa chính). Dù bữa ăn ngoài (ăn xế, ăn chiều) có là đồ dùng chay đi nữa cũng bị cấm ngăn. Bởi lẽ, các Tổ quan niệm việc ăn ba bữa trong một ngày đã là đủ đầy đối với một người. Việc ăn phi thời cũng là một biểu hiện của dục – sự thèm khát ăn uống, không tiết độ chính mình. Nhiều người viện cớ là do “nhanh đói” hoặc là “buồn miệng” để ngụy biện cho lối ăn phi thời. Kì thực, ăn ngoài bữa là dựa trên sở thích, ham muốn cá nhân đối với thực phẩm. Nếu quả là do đói, thì bữa chính nên dùng no, hoặc có thể uống các thức bổ sung. Còn lý do “buồn miệng” thì nên xem xét tiết chế chính mình, kiềm hãm bản thân để không quá phụ thuộc vào ăn uống. Thực trai còn là không ăn Ngũ vị tân (hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu), bởi các thức này cay nồng, bốc mùi xú uế, sợ kinh động thần tượng, kinh văn. Hơn hết là các thức này làm gia tăng hoocmon ham muốn dục tình trong con người. Ngoài ra, thực trai còn là không uống rượu, bia, đồ có cồn hay chất kích thích, vì chúng làm mất chân tính, đưa con người vào đường lầm lỡ, tuy nhiên cũng cần phải xét các trường hợp đặc biệt (như rượu chữa bệnh, chất kích thích dùng cho mục đích y khoa). Cơ bản như trên là Thực trai vậy.
Thứ hai là Y trai. Con người khác vật chỗ biết lấy cây cỏ, lông tơ mà dệt áo quần gấm góc. Trước là giữ nhiệt, sau là giữ lễ, tránh khơi gợi dục tình. Y trai là điều tiết việc mặc quần áo, phục sắc. Ăn mặc phải phù hợp thời điểm, nơi chốn, chớ vì sở thích cá nhân mà ăn vận lố lăng, xuề xòa. Lại nữa, tiên hiền nói: “Y phục xứng kỳ đức”, y phục xứng với đức độ mà người ta đang khoác mặc. Trong Đạo giáo, các y phục ngoài là áo quần mang trên người, còn biểu thị nhiều ý nhị nhiệm lý. Đạo bào thêu bát quái, ngũ nhạc chân hình đồ, nhật nguyệt tinh, Tam Thanh, Hoàng đình chẳng phải là cho đẹp mã, mà đích để biểu thị phẩm giá người bận, cũng là nêu lên trọng trách của kẻ ấy với đạo chúng. Cho đến Thanh hải y mặc hàng ngày, màu xanh đậm thể hiện thủy dương chân khí, vạt trái đè vạt phải biểu trưng lấy dương bão âm, bên hông có 3 nút nhằm thể hiện quy y Đạo Kinh Sư Tam bảo. Thảy thảy đều ẩn tàng nhiệm lý sâu xa. Bên cạnh đó, đạo sĩ cũng tránh sử dụng phục sức bằng vàng bạc quý giá, xa hoa lộng lẫy. Đạo sĩ đến trâm cài tóc cũng chẳng làm bằng ngọc hay vàng hay bạc, chẳng được khắc hoa, khắc hạc. Việc không dùng đến các phục sức quý giá cốt để không vướng vào chấp ngã, cũng là tránh khơi dậy lòng tham của chúng nhân và giữ cho mình thuần phác giản dị vậy!
Thứ ba là Trú trai. Trú trai được thể hiện qua việc tiết độ nơi đi chốn ở. Con người là một cá thể giữa một đoàn thể, là một cá nhân trong xã hội. Vậy nên nhu cầu đi lại, giao thiệp là điều cần thiết ở đời. Tuy nhiên, Đạo sĩ không được lui tới nơi uế tạp, giao du với hàng phi loại, nhất là bảo vệ chính mình khỏi hiểm nguy, nữa là tránh tiêm nhiễm những thói xấu điều hư trong đời. Điển cố “Mạnh mẫu tam thiên” cũng là tích cổ nhân truyền lại, răn dạy con người nên biết chọn chốn mà lui tới. Lại nữa, Đẩu Chân Thất Giới dạy rằng “Không giao du hàng phi loại”, nghĩa là đạo sĩ không được lui tới chốn trái lẽ Đạo, giao du với những kẻ phi Đạo Đức. Việc đi lại, giao thiệp với người ngoài cũng cần được “trai giới”. Thuở xưa, trừ khi có lý do đặc biệt, đạo sĩ không được phép bước ra cửa Linh quan điện, ám chỉ rằng Đạo quán là một tầng thành quách bảo vệ, đồng thời cũng là mộ phần, táng an xác thân phàm tục của họ. Đây là nơi họ được yên ổn bởi khiên che thuẫn đỡ là Chính pháp, lấy lòng sùng kính tập thể làm vũ khí và đời sống tu hành làm thao trường lành thánh. Đây là mồ chôn của Tam thi, bởi lẽ, Thân Tâm Ý của họ hằng ngày được thanh luyện và quán chiếu hầu trở tên tinh khiết, trong trẻo. Với người thiện tín, việc đi lại, quan hệ quả thực là quan trọng, cần thiết và không thể tránh khỏi, nhưng trộm nghĩ phải hết ý cẩn trọng, biện phân lựa chọn kỹ càng khi đặt để nơi dừng chân cho mình.
Thứ tư là Ngôn trai. Ngôn trai là tránh các tội nghiệp của khẩu: Nói dối, thay trắng đổi đen, mạt sát chửi rủa, ngôn từ hoa mỹ nhằm tư lợi,… Ngôn trai là việc đạo chúng điều tiết lời ăn tiếng nói sao cho chánh trực, hòa nhã. Ngôn từ hiện hữu dưới hình thức thanh âm, ký hiệu, chữ viết nhằm truyền tải thông tin và bày tỏ tâm tư, suy tưởng cá nhân (gọi là thông tin đặc biệt). Có lời nói khiến con người gắn kết thâm tình, cũng có lời nói gây chia rẽ, chửi rủa, thậm chí là giết chóc. Đạo kia, có khi một lời đủ giác ngộ, nửa câu đủ thấu huyền. Con người ấy, một lời mà có thể khuyên người đắc thánh, nhưng cũng có thể đưa người ta đến tận cùng đau khổ. Đó là phương tiện bộc lộ hết cả Thân, Tâm, Ý của ta. Việc giữ cho lời nói hòa nhã, giản dị quả thực là một điều khó khăn, đòi hỏi lòng kiên thành và được thực hiện liên lỉ.
Đạo giáo có một trai kỳ diễn ra trong vòng 10 ngày theo hình thức: 7 trai, 3 tiếu. 7 ngày đầu gọi là “tán trai”, 3 ngày sau là “trí trai”. Ngày đầu tiên của kỳ trai này, đạo chúng thiết lập đàn tràng, thực hiện khai đàn. Kế đó, đạo chúng bắt đầu hành trai giữ giới tinh nghiêm. Số 7 biểu trưng cho “thiếu dương”, mô tả việc đạo chúng sau khi chìm đắm trong tĩnh lặng, giữ giới nghiêm minh, như rằng được khởi sinh con người mới. Sau 7 ngày đó, đạo chúng mới lập pháp hội diễn ra trong 3 ngày cuối. Điều này biểu đạt rằng sau 7 ngày tĩnh lặng, sám hối, thì họ đã có đủ tư cách diện kiến chư chân. Việc tu trai không chỉ đơn thuần là tích đức, nuôi dưỡng lòng từ bi cho mình, mà nó còn là việc tạo dựng mối liên kết bền chặt với các Đấng Thần Minh.