1. Thiên lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”.
2. Địa lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”.
3. Đạo Đức lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”.
4. Dân Tuế lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”.
5. Vương Hầu lạp thị ““Ngũ đế giáo định sinh nhân xử sở, thụ lộc phân dã”.
Ngũ Lão tức Ngũ Linh Ngũ Lão Thượng Đế
Ngũ Lạp gồm:
1. Thiên lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”.
THIÊN LẠP
Thiên Lạp nhằm vào ngày mồng một tháng Giêng Nông lịch, thường gọi “Quá niên”, “Nguyên Đán”, tượng trưng cho mùa xuân thịnh vượng. Thiên Lạp là một trong Ngũ Lạp. Theo “Thái Thượng Đỗng Huyền Linh Bảo Phúc Nhật Diệu Kinh”, Thiên tôn nói: “Chính nguyệt nhất nhật, thiên lạp. Ngũ nguyệt ngũ nhật, địa lạp. Thất nguyệt thất nhật, đạo đức lạp. Thập nguyệt nhất nhật, dân tuế lạp. Thập nhị nguyệt ngộ lạp, vương hầu lạp. Mỗi nguyệt nhất nhật, thập ngũ nhật, giáp tý, bản mệnh, canh thân nhật, hữu nhân năng vu thử nhật trường trai, tụng vịnh kinh văn, vô nguyện bất hội”.
Thiên Tôn nói: Ngày mồng bảy tháng Giêng – Thiên Lạp, ngày mồng năm tháng Năm – Địa Lạp, ngày mồng bảy tháng bảy – Đạo Đức Lạp, ngày mồng một tháng Mười – Dân Tuế Lạp, ngày mồng 8 tháng Chạp – Vương Hầu Lạp cùng các ngày Sóc Vọng hàng tháng, Canh Thân, Giáp Tý, Bản Mệnh, Thái Tuế, kẻ nào giữ được trường trai, tụng kinh hành đạo liền được sở nguyện toại tâm.
Theo Vân Cấp Thất Thiêm, Thiên Lạp là dịp Ngũ Đế hội tại Đông phương Cửu khí Thanh thiên; Địa Lạp là khi Ngũ Đế hội tại Nam phương Tam khí Đan thiên; Đạo Đức lạp là lúc Ngũ Đế hội tại Tây phương Thất khí Tố thiên; Dân Tuế lạp nhằm Ngũ Đế hội tại Bắc phương Ngũ khí Hắc thiên; Vương Hầu Lạp, Ngũ Đế hội Thượng phương Huyền Đô Ngọc Kinh.
Thiên lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”. Địa lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”. Đạo Đức lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”. Dân Tuế lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”. Vương Hầu lạp thị ““Ngũ đế giáo định sinh nhân xử sở, thụ lộc phân dã”.
“Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách” nói: “Ngũ Đế toàn hội chi nhật, thử nhật Phong Đô Bắc Âm Thiên Đế khảo giáo quỷ hồn, tra sinh nhân tổ khảo cập kiến thế tử tôn sở hành thiện ác, dĩ định tội phúc”. Dịp Ngũ Đế hội tụ, cũng là khi Phong Đô Huyền Khanh Đại Đế khảo giáo quỷ hồn, kiểm lục hành vi tiền nhân tông tổ đến hậu duệ cháu con, dùng đó định tội phúc.
Trong hôm nay, ngưỡng mong quý đạo hữu thành tâm xưng niệm Tam Quan Bảo Cáo, Ngũ Lão Bảo Cáo, thành tâm sám hối tội lỗi, cầu nguyện Thiên Tôn gia trì. Trước thảy hướng đến tiền nhân tông tổ, cầu tảo đắc siêu sinh; Thứ cầu thâm tâm được xá trừ tội chướng, hoạch phúc vô lượng.
2. Địa lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”.
Mồng năm tháng năm Nông lịch, nhằm dịp tiết Đoan Ngọ, cũng tức là Địa Lạp - một trong Ngũ Lạp, các kỳ tế tự trọng thể của Đạo giáo. Theo “Thái Thượng Đỗng Huyền Linh Bảo Phúc Nhật Diệu Kinh”, Thiên tôn nói: “Chính nguyệt nhất nhật, thiên lạp. Ngũ nguyệt ngũ nhật, địa lạp. Thất nguyệt thất nhật, đạo đức lạp. Thập nguyệt nhất nhật, dân tuế lạp. Thập nhị nguyệt ngộ lạp, vương hầu lạp. Mỗi nguyệt nhất nhật, thập ngũ nhật, giáp tý, bản mệnh, canh thân nhật, hữu nhân năng vu thử nhật trường trai, tụng vịnh kinh văn, vô nguyện bất hội”.
Thiên Tôn nói: Ngày mồng một tháng Giêng – Thiên Lạp, ngày mồng năm tháng Năm – Địa Lạp, ngày mồng bảy tháng bảy – Đạo Đức Lạp, ngày mồng một tháng Mười – Dân Tuế Lạp, ngày mồng 8 tháng Chạp – Vương Hầu Lạp cùng các ngày Sóc Vọng hàng tháng, Canh Thân, Giáp Tý, Bản Mệnh, Thái Tuế, kẻ nào giữ được trường trai, tụng kinh hành đạo liền được sở nguyện toại tâm.
Theo Vân Cấp Thất Thiêm, Thiên Lạp là dịp Ngũ Đế hội tại Đông phương Cửu khí Thanh thiên; Địa Lạp là khi Ngũ Đế hội tại Nam phương Tam khí Đan thiên; Đạo Đức lạp là lúc Ngũ Đế hội tại Tây phương Thất khí Tố thiên; Dân Tuế lạp nhằm Ngũ Đế hội tại Bắc phương Ngũ khí Hắc thiên; Vương Hầu Lạp, Ngũ Đế hội Thượng phương Huyền Đô Ngọc Kinh.
Thiên lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”. Địa lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”. Đạo Đức lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”. Dân Tuế lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”. Vương Hầu lạp thị ““Ngũ đế giáo định sinh nhân xử sở, thụ lộc phân dã”.
“Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách” nói: “Ngũ Đế toàn hội chi nhật, thử nhật Phong Đô Bắc Âm Thiên Đế khảo giáo quỷ hồn, tra sinh nhân tổ khảo cập kiến thế tử tôn sở hành thiện ác, dĩ định tội phúc”. Dịp Ngũ Đế hội tụ, cũng là khi Phong Đô Huyền Khanh Đại Đế khảo giáo quỷ hồn, kiểm lục hành vi tiền nhân tông tổ đến hậu duệ cháu con, dùng đó định tội phúc.
Khi nay, kính mong quý đạo hữu thành tâm xưng niệm Ngũ Lão Tổng cáo. Nguyện bản thân tránh khỏi yêu tà, tâm thần được thanh tịnh, an ninh
3. Đạo Đức lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”. Mồng 7 tháng 7 Nông lịch, Đạo Đức Lạp:
4. Dân Tuế lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”.
DÂN TUẾ LẠP - HÀN Y TIẾT
Dịp tháng Mười Nông lịch, Đạo giáo tôn kính Tam Nguyên Tam Phẩm Tam Quan Đại Đế, cá biệt hơn là Thủy Quan Đại Đế. Nhân dịp Dân Tuế Lạp, cũng là kỳ Hạ Nguyên sắp đến - khánh mừng Thánh đản Thủy Quan, chúng tôi có soạn bản “Bảo cáo thông dụng bình chú” (file PDF, 100 trang) - bản văn chú giải một số bảo cáo thường được trì tụng trong đời sống tín sĩ, đạo sĩ. Thông qua bản chú giải này, chúng tôi mong đạo chúng có thể tiếp cận thuận lợi với các bảo cáo thường được khuyến khích trì tụng hằng này. Từ đó, mỗi cá nhân có thể kiến thiết được Đạo tâm, Đạo ý cho bản thân phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện chính mình. Qua sự cải đổi từ chính bản thân cộng hưởng cùng sự nhận thức ân thiêng Huyền Tạo ban tặng, nguyện cầu đạo chúng được an thái thanh tĩnh, vĩnh ly phiền não, đều đăng bến Đạo! Vậy nên, quý đạo sĩ, tín sĩ nào có nhu cầu, xin gửi email qua tin nhắn tin Fanpage để chúng tôi tiện bề gửi đến.
Ngày Sóc tháng Mười Nông lịch, còn xưng là “Hàn Y Tiết”, “Thập Nguyệt Triều”, “Tế Tổ Tiết”, “Minh Âm Tiết”, “Thu Tế”. Dân chúng gọi là Quỷ Đầu Nhật, là một trong những dịp tế tự xa xưa của con người Á Đông. Hàn Y Tiết cùng hai dịp Thanh Minh, Trung Nguyên hợp xưng tam đại “Minh Tiết” hoặc “Quỷ Tiết”, tức là dịp tưởng nhớ người quá cố, tiền nhân tông tổ. Đối với văn hóa Đạo giáo, đây là Dân Tuế lạp.
Dịp này rơi nhằm ngày đầu tiên của tháng đầu đông, gió lạnh thổi về. Hậu nhân ngộ cảnh gió thổi âm u mà tưởng nhớ tiên tổ. Vì thế, dân chúng thường đốt quần áo, cúng tế lễ vật tưởng nhớ người quá cố, gọi “hàn y”. Con người trong quá trình phát triển xã hội lưu giữ cho mình những truyền thống tốt đẹp như “ẩm thủy tư nguyên”, kính trọng tiên tổ, mong cầu người đã khuất được an yên nơi Tuyền Đài. Vì thế, các lễ tiết hướng đến người quá cố mang phần ý nghĩa quan trọng thiết yếu.
Trong Đạo giáo, lúc đốt quần áo cho người quá cố, đạo chúng thường đọc “hóa y chú”. Chú viết: Ngũ thải bạch cẩm, ngộ hỏa thành hình; y cân quan lí, dĩ sức nghi hình. Âm dương nhị khí, hợp nhất thành chân; ngũ hành hỗn hợp, chân khí vi y. Khí phân la khỉ, thải tập tuyên uy; tam nguyên đạo dưỡng, nhị tượng nhiếp sinh. Do nhất thành bách, do bách chí thiên; thiên vạn biến hóa, y lí vô khuyết. Thái ất cứu khổ thiên tôn!
Vân Cấp Thất Thiêm đề cập “chính nguyệt nhất nhật vi thiên lạp, ngũ nguyệt ngũ nhật vi địa lạp, thất nguyệt thất nhật vi đạo đức lạp, thập nguyệt nhất nhật vi dân tuế lạp, thập nhị nguyệt bát nhật vi vương hầu lạp”. “Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách” xưng: “Mồng một tháng Giêng, danh thiên lạp, dịp này Ngũ Đế hội tại Đông Phương Cửu Khí Thanh Thiên. Ngày 5/5, danh địa lạp, Ngũ Đế hội tại Nam Phương Tam Khí Đan Thiên. Ngày 7/7, danh đạo đức lạp, Ngũ Đế hội tại Tây Phương Thất Khí Tố Thiên. Ngày 1/10, danh dân tuế lạp, Ngũ Đế hội tại Bắc Phương Ngũ Khí Hắc Thiên. Ngày 8 tháng Chạp, danh vương hầu lạp, Ngũ Đế hội tại Thượng Phương Huyền Đô Ngọc Kinh”.
Thiên lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”. Địa lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”. Đạo Đức lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”. Dân Tuế lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”. Vương Hầu lạp thị ““Ngũ đế giáo định sinh nhân xử sở, thụ lộc phân dã”. Dịp Ngũ Đế hội nhật, cũng là lúc Phong Đô Bắc Âm Thiên Đế khảo giáo quỷ hồn, tra khảo tiền nhân tông tổ cho đến xem xét tử tôn hành thiện, tác ác, căn cứ theo đó mà định tội phúc. Dịp này, đạo chúng thường tiếu tạ, tu trì hành pháp, nguyện cầu tiền nhân tông tổ vĩnh ly tam đồ ngũ khổ, vĩnh sinh vinh giới.
Dịp Dân Tuế Lạp, ngưỡng khởi đạo chúng trì niệm Tam Quan Bảo Cáo, Ngũ Lão Tổng Cáo, thành tâm sám hối tạ tội, thời có thể thỉnh thiêm toán thọ, tế tự tiên vong, mộc dục huyền tổ.
5. Vương Hầu lạp thị ““Ngũ đế giáo định sinh nhân xử sở, thụ lộc phân dã”.
Vương Hầu Lạp hay Hầu Bá Lạp chính là nhằm nói về ngày mồng tám tháng Chạp hằng năm. Trong quan niệm Đạo giáo, lúc này, Ngũ Linh Ngũ Lão Thượng Đế Độ Nhân Hộ Mệnh Thiên Tôn cùng triều hội tại Huyền Đô Ngọc Kinh Sơn. Qua đó, Ngũ Đế, Tam Quan, chư vị thánh chân cùng giáo định phúc báo nhân quả sinh dân. Dịp này trong văn hóa dân gian của người Trung Hoa thường nấu cháo hoa quả (cháo Lạp Bát) để dâng hiến thần minh hoặc gửi tặng xóm làng thân thiết.
Vốn truyền thống Tam Nguyên, Ngũ Lạp là một trong những lễ trọng đại của Đạo giáo. Cụ thể, Tam Nguyên gồm: Thượng Nguyên kính lễ Thiên Quan Đại Đế vào dịp Rằm tháng Giêng; Trung Nguyên khánh hạ Địa Quan Đại Đế vào dịp Rằm tháng Bảy và Hạ Nguyên triều bái Thủy Quan Đại Đế vào dịp Rằm tháng Mười. Ngũ Lạp là các dịp: Chính nguyệt sơ nhất (1/Giêng) gọi Thiên Lạp; Ngũ nguyệt sơ ngũ (5/5) - Địa Lạp; Thất nguyệt sơ thất (7/7) - Đạo Đức Lạp; Thập nguyệt sơ nhất (1/10) - Dân Tuế Lạp; Thập nhị nguyệt sơ bát nhật (8/Chạp) - Vương Hầu Lạp. Nhằm vào Tam Nguyên, Ngũ Lạp, đạo chúng thường gìn giữ trai giới, tế tự tổ tiên, tụng kinh sám hối, bạt độ vong hồn. Một mặt cầu cho người đã khuất được siêu thăng thượng giới; mặt khác hướng đến tâm khảm, nâng thần hồn mình được thêm trong sạch để múc trọn nguồn cội ân điển đất trời.
Một cách chi tiết hơn, Thiên Lạp là dịp “Ngũ Đế giáo định sinh nhân thần khí thời hạn trường đoản”. Địa Lạp là lúc “Ngũ Đế định sinh nhân quan tước, huyết nhục suy thịnh”. Đạo Đức Lạp là khi “Ngũ Đế giáo định sinh nhân cốt thể khô thịnh”. Dân Tuế Lạp là thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân lộc khoa quan tước”. Vương Hầu Lạp thời “Ngũ đế giáo định sinh nhân xứ sở, thụ lộc phân dã”. Vương Hầu Lạp là lúc Ngũ Đế giáo định nhân sinh xứ sở, thụ lộc phân định, cũng giáng chú Tam vạn Lục thiên thần khí. Phàm vào dịp này, đạo quán thường cử hành nghi khoa, hướng đạo chúng vào việc tạ tội tẩy tâm, cầu diên niên ích thọ, an định bách thần, mộc dục tế tự tiên vong…
Tại sao dịp này lại tế tự tiên tổ, nhớ về người đã khuất? Trong “Thiên Hoàng Chí Đạo Thái Thanh Ngọc Sách” đề cập rằng: Vào dịp Ngũ Đế triều hội cũng là ngày Phong Đô Bắc Âm Thiên Đế khảo giáo chúng quỷ hồn, tra khảo các kẻ sống trên dương thế, từ việc tổ khảo cho đến xem trông tử tôn hành việc thiện ác mà định tội phúc sinh dân. Ngày này đều có hệ lụy đến kẻ sống, nương đó mà tiếu tạ, truy tu bằng việc tế tự, có thể rời các đường khổ.
Dịp này, kính mong đạo chúng chú tưởng kim dung, xưng dương bảo cáo, cung dưỡng Ngũ Linh Ngũ Lão Thượng Đế, Tam Nguyên Xá Tội Thiên Tôn, nguyện cầu chúng thánh đồng triêm, thi ân giáng phúc. Mong cho đạo chúng tội khiên được câu diệt, kẻ sống thêm thọ, người khuất siêu thăng. Đây cũng là tháng cuối năm của một kỳ Âm lịch, là khi cả thảy cùng dọn dẹp phòng ốc nơi thần hồn mình, xin quét tước những bụi bẩn trần cấu, nguyện tâm niệm thêm sáng tỏ, trí tuệ được soi sáng.
Chí tâm quy mệnh lễ: Âm dương thủy tổ, thiên địa căn nguyên. Thụ cáo mệnh vu Ngọc Hoàng, bỉnh chú chương vu Linh Bảo. Thải thư cẩm triện, thổ ngũ khí chi tinh hoa; xích phúc đan nang, phát tam quang chi hoảng diệu. Tiêu ca vu Hàn Linh điện nội, phi bộ vu Tử Vi cung trung. Luyện độ thân hình, trấn khu yêu tà. Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ, Ngũ Linh Ngũ Lão Thượng Đế, Độ Nhân Hộ Mệnh Thiên Tôn.
Chí tâm quy mệnh lễ: Nhất khí trình dạng, Ngũ Đế ngưng tinh. Truyền thái cực chi xu cơ, hiển dương chí đạo; thụ hoàng đồ chi cự tế, khai thác kim đan. Tụ ngũ hành nhi bố ngũ khí, tổng bách mạch nhi thông bách hài. Châm quy kim mộc thủy hỏa thổ, giáo định thanh hoàng xích bạch hắc. Giám lâm thiên địa nhân tam tài, chấp phù thượng trung hạ thất đồ. Túc bộ thiên cương, thủ quyết địa sát. Chưởng vận tý sửu dần mão, thìn tị ngọ mùi, thân dậu tuất hợi; bặc cát càn khảm cấn chấn, tốn ly khôn đoài, hào thoán ngẫu kỳ. Tạo hóa bất sảng vu tinh thần, hình hài cố đế; phế phủ thanh minh quán khái chân, doanh vu vũ trụ. Thần phục ngọc dịch, đạo thể thôi tôn. Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ. Đỗng linh cung trung, Thương lão thượng thánh. Ngũ đức ứng việt, hỗn nguyên nhất dương, vô thượng chân tiên, Huyền Linh Ngũ Lão Thượng Đế.
Tam Quan Tổng Cáo: Chí tâm quy mệnh lễ; Duy tam thánh nhân, Nãi nhất thái cực; Phổ thụ hạo kiếp gia chi mệnh; Đỉnh ưng vô lượng phẩm chi bao; Tử vi thanh hư đỗng âm,Tổng lãnh công quá; Tứ phúc xá tội giải ách, Phổ tế tồn vong; Đạo quan chư thiên, ân đàm tam giới; Đại bi đại nguyện, Đại thánh đại từ. Tam nguyên tam phẩm, Tam Quan Đại Đế. Tam cung cửu phủ, Ứng Cảm Thiên Tôn.