Giá bán
3.600.000 đ
Size:
  • Mã sản phẩm
    MS0119
  • Xuất Xứ
    Nhập Khẩu
  • Chất liệu
    Poly
  • Kích thước
    40cm
  • Tư vấn miễn phí
    0993.103.103
  • Quà tặng
    Tặng 01 hộp trầm hương Trường Chân
Số lượng

Mô tả Sản phẩm

Tượng Kim Hoa Thanh Mẫu Chú Sanh Nương Nương , Chúa Sanh Nương Nương, Chú Sinh Nương Nương, "Kim Đẩu ”, "Chú Sanh nương nương”, "Chú Sanh ma ”, "Tong tử nương nương”,"Trần phu nhân ”, "Lâm Thủy phu nhãn ”, "Thuận Thiên Thảnh mẫu” hoặc "Thụ tử nương nương là danh hiệu của Kim Hoa Thánh Mẫu Chúa Sanh Nương Nương, Ngài với 12 vị tiên cô mà dân gian hay gọi là Bà mụ, phụ trách việc sanh nở cho chúng sinh....Cùng Trường Chân tìm hiểu bài viết Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Kim Hoa Thánh mầu và mười hai bà mụ do 2 tác giả Nguyễn Thái Hòa, Cao Nguyễn Ngọc Anh ( Đại Học Văn Hóa TP.HCM) biên soạn

Tiên tượng Ngài Kim Hoa Thánh Mẫu

 

Tóm tắt: Kim Hoa Thánh Mẫu hay còn gọi là "Kim Đẩu ”, "Chú Sanh nương nương”, "Chú Sanh ma ”, "Tong tử nương nương”, "Trần phu nhân ”, "Lâm Thủy phu nhãn ”, "Thuận Thiên Thảnh mẫu” hoặc "Thụ tử nương nương” là một trong những vị thần bảo hộ cho việc sinh nở được tôn sùng, kính ngưỡng nhiều nhất ở Trung Quốc, đặc biệt là ở Đài Loan và miền Nam Phúc Kiến. Dân gian Trung Quốc qua các thời kỳ đã lấy hình ảnh của bà đờ
và việc sản phụ sinh nở để "sáng tạo” nên một vị thần linh chuyên trách vấn đề này, nhằm mong cầu những điều tốt đẹp cho những người hiếm muộn, thai phụ cùng những đứa trẻ mới chào đời. Và tín ngưỡng này cũng theo chân các lưu dân người Hoa đê phát triển nơi vùng đất mới - Quảng Ngãi (Việt Nam).

Dẩn nhập
Tín ngưỡng thờ Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ là một trong những nét nổi bật trong đời sống tín ngưỡng của người dân tại Thu Xà, Quảng Ngãi. Theo tài liệu thư tịch và tư liệu điền dã của chúng tôi, những gia đình hiếm muộn về con cái hay con cái sinh ra khó nuôi thường đến Chùa Ông tại Thu Xà, Quảng Ngãi để cầu xin bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ phù trợ cho “mẹ tròn con vuông”, cầu xin sự may mắn, bình an. ,

Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Kim Hoa Thánh Mẫuvà mười hai bà mụ, chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học và phương pháp khảo cứu thư tịch. Tư liệu điền dã do chúng tôi thực hiện trong quá trình đi thực địa tại Quảng Ngãi vào tháng 6/2016, và dịp Tết Nguyên đán 2017 được thu thập bằng các phương pháp phỏng vấn sâu đối với người dân và quan sát tham dự các nghi lễ. Để lý giải ý nghĩa của tín ngưỡng thờ bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ, chúng tôi sử dụng quan điểm lý thuyết chức năng (chức năng đối với cá thể) của nhà nhân học Bronislaw Maliknowski. Lý thuyết chức năng chia thành hai nhánh: chức năng đối với cá thể (quan niệm của Bronislaw Malinowski) và chức năng xã hội hay còn gọi là chức năng cấu trúc (quan niệm của Emily Durkheim và được triển khai thêm trong những công trình của Radcliffe Brown). Đối với
chức năng cấu trúc của Radcliffe Brown, thì chức năng của một tập tục là sự đóng góp của nó vào đời sống liên tục của “cơ thể xã hội”.

Nếu như Radcliffe Brown đề cao phương pháp luận tập thể và cho rằng xã hội có những nhu cầu cần được thỏa mãn bời hành động của các thành viên thì B. Malinowski nhấn mạnh đến nhu cầu của cá nhân.B. Malinowski quan niệm rằng: “Văn hóa được xây dựng trên những nhu cầu sinh vật của cá nhân, là điểm qui chiếu từ đó có thể rút ra những điểm tương đồng giữa các xã hội đơn giản và phức tạp. Từ ngữ chức năng được dùng ở đây mang ý nghĩa thỏa mãn nhu cầu chủ yếu của cá nhân thông qua phương tiện văn hóa”

Trong quá trình điền dã tại đảo Trobriand, Malinowski đã quan sát hành vi của ngư dân khi đánh bắt cá ở phá và ngoài khơi. Trong khi những làng phía trong phá đánh bất cá một cách dễ dàng, không có
nguy hiểm thì họ chỉ dựa vào kiến thức và kỳ năng của mình. Ngược lại, với việc đánh bắt cá ngoài khơi đầy nguy hiểm và bất trắc, thì người ta sử dụng hàng loạt các nghi lễ để trấn an về mặt tâm lý, hy vọng sẽ đạt được kết quả cao2 Như vậy, môi trường xã hội càng bất trắc, nguy hiểm thì con người càng cần đến bùa chú, cúng kiếng. Chức năng tâm lý của tôn giáo là làm dịu đi lo lắng về những điều nguy
hiểm trong đời sống mà con người phải đối mặt, nhấn mạnh đến chức năng của văn hóa là đáp ứng nhu cầu của con người. Vận dụng quan điểm của B. Maliknowski, chúng tôi lập luận rằng xã hội hiện đại với
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, y tế nhưng cũng mang lại cho con người nhiều rủi ro về kinh tế, hay vấn đề sức khỏe. Vì thế, những
người phụ nữ hiếm muộn, bên cạnh việc tìm kiếm các giải pháp hiện đại, còn tìm đến tín ngưỡng thờ bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ nhằm đáp ứng nhu cầu trấn an về mặt tâm lý.

1. Nguồn gốc tín ngưỡng thừ Kim Hoa Thánh mẫu và mười hai bà mụ 
Cho đến nay, có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về thân thế của bà, chỉ có một điêm giống nhau duy nhất là đều liên quan đến việc sinh nở. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến những truyền thuyết phổ biến nhất:
1. Ba chị em Vân Tiêu, Bích Tiêu và Quỳnh Tiêu trong Phong thần truyện là môn đồ của Quy Linh Thánh mẫu, đã từng luyện thành pháp bảo “Hồn nguyên kim đẩu”. Nhưng do em trai là Triệu Công Minh (Huyền Đàn Nguyên soái) chết trong tay của Khương Từ Nha, nên ba bà tìm cách báo thù bằng việc liên kết làm đồ đệ của Văn Thái sư, bày ra trận Hoàng Hà khiến quân của nhà Chu chết vô số. về sau, Nguyên Thủy Thiên Tôn đã hóa giải được trận nên ba bà thất bại và chết. Khi Khương Tử Nha phụng mệnh Ngọc Hoàng Đại đế phong thần, đã phong cho ba bà nắm giữ “Hồn nguyên kim đẩu”, chuyên chuyển hóa kiếp người, phàm là thiên hạ bách tính, chư hầu thiên từ, bất kể giàu nghèo, thông minh hay ngu dốt4. Ba bà trong bảng phong thần gọi chung là Tam cô, hay Tam tiên Đồng tử. Vân Tiêu, Quỳnh Tiêu và Bích Tiêu còn gọi chung là bà Kim Đẩu hay “Thụ tử chi thần”, ba bà cùng với mười hai bà mụ, hay còn gọi là mười hai bảo mẫu, mồi người bế một đứa trẻ, trong đó có sáu đứa tốt, sáu đứa xấu, với đụng ý là ban con trai hay con gái, xấu hay tốt là phụ thuộc vào việc người đó tích được bao nhiêu thiện - đức.


Tên của mười hai bà mụ như sau:
1. Mụ bà Trần Tứ nưong coi việc sinh đẻ (chú sinh);
2. Mụ bà Vạn Tứ nương coi việc thai nghén (chú thai);
3. Mụ bà Lâm Cửu nương coi việc thụ thai (thủ thai)
4. Mụ bà Lưu Thất nương coi việc nặn hình hài nam, nữ cho trẻ
(chú nam nữ);
5. Mụ bà Lâm Nhất nương coi việc chăm sóc bào thai (an thai);
6. Mụ bà Lý Đại nương coi việc chuyển dạ (chuyển sinh);
7. Mụ bà Hứa Đại nương coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản);
8. Mụ bà Cao Tứ nương coi việc ở cữ (dưỡng sinh);
9. Mụ bà Tăng Ngũ nương coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo tống);
10. Mụ bà Mã Ngũ nương coi việc ẵm bồng con trẻ (tống tử);
11. Mụ bà Trúc Ngũ nương coi việc giữ trẻ (bảo tử);
12. Mụ bà Nguyễn Tam nương coi việc chứng kiến và giám sát 
việc sinh đẻ (giám sinh).


Nhưng cũng có khi bà Kim Đẩu được dân gian tạo hình chỉ là một pho tượng với tay trái cầm cuốn sổ, tay phải cầm bút, tượng trưng cho việc sinh con trai hay con gái đều được ghi chép trong cuốn sổ này.Chỉ cần bà tra sổ là biết được nên cho họ sinh con gái hay trai, hoặc có thể thay đổi nếu thành tâm cầu nguyện.

2. Một truyền thuyết khác lại cho rằng, bà Kim Đẩu chính là Trần Phu nhân, người Phúc Kiến, thường gọi là Trần Tĩnh Cô hoặc Trần Tiến Cô. Nhưng về lai lịch của bà, các sách lại đề cập không giống nhau. Như cuốn: “Tam giáo nguyên lưu sưu thần đại toàn” viết: Trần Tĩnh Cô là người thời Đường, gốc huyện La Nguyên, phủ Phúc Châu, phụ thân của bà giữ chức Lang trung bộ Hộ trong triều, mẫu thân là Cát Thị. Trần Tĩnh Cô có một huynh trưởng tên là Trần Nhị Tướng và một nghĩa huynh tên Nhân. Thời đó, trong vùng có con rắn lớn hoành hành, người dân vô cùng cực khổ nhưng họ vẫn phải lập miếu thờ và mồi năm vào dịp tết trùng dương, họ phải tìm một đôi đồng nam đồng nữ để tế. Có một dịp Quan Âm Bồ tát sau khi dự quần tiên hội trở về, trên đường qua đây thấy tà khí bốc lên cuồn cuộn, biết đó là yêu nghiệt làm hại, liền phái thần đi trừ hại trước. Bà cắt một
móng tay, móng tay này hóa thành đường kim quang chiếu thẳng vào bụng Cát Thị, từ đó Cát Thị mang thai. Vào giờ Dần ngày 15 tháng 1 năm Giáp Dần (năm 774, Đường Đại Lịch), Cát Thị hạ sinh Trần Tĩnh Cô. Lúc Trần Tĩnh Cô sinh ra “có luồng khỉ sáng an lành bao phủ toàn thân, mùi thơm lạ bao quanh người, tiếng trong kim ngân vang rền cùng quần tiên hộ sanh”. Khi Trần Tĩnh Cô 17 tuổi, đã mang kiếm trừ rắn độc làm hại, loại bỏ yêu quái hoành hành. Đại công của Trần Tĩnh Cô được triều đình biết đến và Đường Huệ Tông phong bà là “Thuận ý Phu nhân”, về sau, hoàng hậu của vua Đường khó sinh, tính mạng nguy kịch, Trần Tĩnh Cô biết điều đó nên đã lập tức nhập cung, dùng pháp thuật giúp hoàng hậu hạ sinh thái từ. Hoàng thượng vô cùng vui sướng, sắc phong bà làm Đô Thiên Trấn quốc Hiển ứng Sùng phúc Thuận ý Đại nải Phu nhân, sau lập miếu thờ Trần Tĩnh Cô ở cổ Điền.


3. Dân gian Trung Quốc lại cho rằng, Trần Tĩnh Cô là người có pháp lực lớn, chuyên chăm sóc và bảo vệ trẻ em khỏi yêu tà. Như trong cuốn thứ ba Trụ đỉnh dư văn của Diêu Phúc Quân, triều Thanh, có trích dẫn
cuốn Đài Loan huyện chỉ của Tạ Kim Loan viết: Trần Tĩnh Cô là con gái của Trần Xưong ở Phúc Châu. Thời đó, tại thôn Lâm Thủy, huyện Cổ Điền có con bạch xà ưong hang phun khí gây bệnh dịch hạch. Một hôm, người trong thôn nhìn thấy một người mặc áo đỏ cầm kiếm vào hang giết rắn, trừ hại cho dân. Dò hỏi lai lịch và được người mặc áo đỏ trả lời: “Ta là con gái của Trần Xương ở Giang Nam” (tức miền Nam Phúc Kiến). Nói xong liền biến mất. Để cảm tạ ân đức của bà, dân thôn lập miếu để thờ bên cạnh hang rắn. Từ đó về sau, miếu là nơi “Hữu cầu tất ứng, hữu cầu tất linh”, danh tiếng của người áo đỏ lan truyền khắp thiên hạ. Đến thời Tống Thuần Hữu (1241-1252), phong bà là Sùng phúc Chiêu huệ Từ tế Phu nhân, tặng cho bà bức hoành phi với hai chữ “Thuận ý”, về sau, gia phong cho bà là Thiên tiên Thánh mẫu Thanh linh Phổ hóa Bích Hà Nguyên Quân. Ngoài ra, trong dân gian còn lưu truyền rằng, ở Phố Thành có người tên là Từ Thanh Sưu, con dâu của ông này khó sinh nở, nguy hiểm đến tính mạng. Trần Tĩnh Cô làm phép biến hình đến nhà họ Từ đế giúp sản phụ sinh con thuận lợi. Từ gia hậu tạ nồng nhiệt, nhưng Trần Tĩnh Cô từ chổi không nhận. Từ gia hỏi quý danh và nơi ở, bà chỉ nói: “Người cổ Điền, họ Trần”, nói xong liền đi ngay, về sau, Từ Thanh Sưu đến Phúc Châu làm quan, liền phái người xuống cổ Điền dò hỏi thông tin của Trần Tĩnh Cô. Những người đi tìm thấy tượng thần trong miếu giống như người phụ nữ đã đến giúp nhà họ Từ, liền quay về bẩm báo, Từ Thanh Sưu đích thân đến tận miếu xem và ông vô cùng bất ngờ, hóa ra người phụ nữ giúp con dâu ông sinh nở chính là hóa thân của Trần Tĩnh Cô. Thế là ông bẩm báo sự việc này lên triều đình, thỉnh cầu triều đình gia phong cho Trần Tĩnh Cô.

4. Một truyền thuyểt khác kể lại, Lâm Thủy Phu nhân sinh năm Thiên Hựu thứ hai Đường Ai Đế (905), mất năm thứ ba Đường Thiên Thành (928, đời thứ 5 của nhà Đường), hưởng thọ 24 tuổi. Quê ở miền Nam Trung Quốc là Phúc Châu, Phúc Kiến, có tên là Trần Tĩnh Cô Thuở nhỏ rất thông minh, đến tuổi trưởng thành kết hôn với người họ Lưu, không lâu sau thì mang thai. Nhưng thật không may, nơi ở của bà lúc này gặp hạn hán vô cùng nghiêm trọng. Đe cứu bách tính khỏi khổ nạn, bà nguyện hủy thai để chuyên việc cầu mưa. Việc làm của bà cảm động đến thần tiên, khiến trời đã đổ mưa, bách tính vô cùng biết ơn bà. Nhưng do bà làm việc quá sức, nên đã qua đời. Trước lúc lâm chung, bà nói: “Sau khi qua đời, ta sẽ biến thành thần tiên chuyên đi cứu giúp những sản phụ sinh nở”. Từ đó, những phụ nữ sắp sinh thường treo tranh Trần Tĩnh Cô để cầu nguyện thuận bề sinh nở.
5. Trong ngũ hành, hướng đông thuộc mộc, là nơi mà Đông Nhạc Đại đế ngự trị - là người quyết định việc chiếu sáng cho khắp dương gian, là người đoán định họa phúc của con người cũng như việc sinh nở của phụ nữ. Vì thế, con gái của Đông Nhạc Đại đế là Bích Hà Nguyên Quân cũng được dân gian xem là bà Kim Đẩu hay Chú sanh nương nương... Ngoài những truyền thuyết phổ biến, xa xưa kể trên, thì về sau, cùng với dòng chảy của thời gian và sự biến đổi của thời đại, những câu chuyện liên quan đến bà Kim Đẩu ngày một nhiều và tín ngưỡng thờ bà cũng ngày một thịnh hành. Đến thế kỷ XIII, các hoàng đế Trung Quốc lại một lần nữa từng bước nâng cao vị thế của bà qua việc gia phong với nhiều mỳ tự cao quý


2. Tín ngưỡng thờ bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ: Theo nhiều tài liệu lịch sử, người Hoa có mặt ở Quảng Ngãi khá sớm. Đại Nam nhất thong chí thời Tự Đức cho biết ở Quảng Ngãi có hai cửa biển là Sa Kỳ và Đại cổ Lũy. Hai cừa biển trên là những cửa ngõ giao thông chính đề người Hoa nhập cư sinh sống khắp nơi trong tỉnh, sau đó qui tụ đông đảo ở làng Tiên Sà. Phố Minh Hương được nhắc đến chính là phố của những người Hoa khi họ đến vạn Tiên Sà, hình thành tố chức Minh Hương xã, mua đất lập phố Tân An”5.

Từ thế kỷ XVIII, người Hoa tụ cư về Thu Xà diễn ra mạnh mẽ hơn, đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, họ mua đất lập các công trình tín ngưỡng, hội quán. Người Hoa ở Thu Xà thành lập Minh Hương xã. Bên cạnh đó, người Hoa còn thành lập tổ chức bang. Bang ở Thu Xà phát triển khá mạnh khi những thương nhân người Hoa đến buôn bán ở đây nhưng không nhập tịch vào các làng Minh Hương. Họ thành lập bốn bang riêng: Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam6. Có thể nói, nơi đầu tiên mà người Hoa lựa chọn khi đặt chân đến vùng đất Quảng Ngãi là làng Tiên Xà (xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa). Họ đã để lại nhiều dấu ấn riêng, góp phần quan trọng trong việc hình thành và mở rộng các thị trấn, thị tứ thời bấy giờ. Ban đầu, người Hoa sống xen kẽ với người Việt. Sau đó, do giỏi trong việc làm ăn kinh doanh nên gia đình người Hoa nào cũng đều có của ăn của để. Họ bỏ tiền ra mua đất xây nhà, dồn lại ở với nhau và lập hẳn một khu phố riêng gọi là phố Thu Xà. Tên Thu Xà cũng bắt nguồn từ đó. Chỉ một thời gian rất ngắn, người Hoa đã biến nơi đây thành một khu phố sầm uất, là một trong những điểm giao thương hàng hóa bậc nhất”.

Hoa đi đến đâu cũng mang theo những phong tục tập quán, tín ngưỡng của quê hương đến vùng đất mới. “Với niềm tin cầu mong sự che chở, bảo trợ của các đấng thần linh và theo tâm thức của họ là những vị thần phù trợ cho công việc buôn bán, sức khỏe. Họ xây dựng chùa Ông, chùa Bà trước đó, sau này dựng chùa riêng của bốn bang Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến”8. Chùa Ông (Quan Thánh tự) là một trong những di sản văn hóa tiêu biểu của cộng đồng người Minh Hương tại phố Thu Xà, nay thuộc xã Nghĩa Hòa, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Chùa có khuôn viên rộng 2.730m2, bao gồm sân vườn, cổng tam quan và chùa, được bao bọc bằng dãy tường thành cao, vững chắc. 

Theo nhiều tài liệu còn lưu giữ, chùa Ông được xây dựng năm 1778 dưới triều Tây Sơn, niên hiệu Thái Đức thứ nhất. Đây là công trình của những lưu dân người Phúc Kiến (Trung Hoa) vào đầu tiên tại Thu Xà xây dựng. Đến năm 1821, dựa trên sự đóng góp của các tộc họ ở Minh Hương, chùa Ông mới được tạo lập hoàn chỉnh9. Hiện nay, ở chùa vẫn còn lưu danh mười tám tộc họ Minh Hương đã góp công sức, tiền của xây dựng như họ Hoàng, Từ, Hà, Tăng, Dương, Dư, Ngô, Diệp, Cô, Đồng, Lê, Phùng, Trần, Cao, Đỗ, Lâm, Tạ, Vưu, trong đó, các họ Trần, Lâm, Ngô, Hoàng được xem là đến định cư sớm hơn cả10. Năm 1983, chùa Ông được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia.

Chùa Ông được bài trí theo kiểu “Tiền Thánh, hậu Phật”. Gian chính điện có mười hai cột chia làm ba gian, với gian giữa thờ Quan Công, hai bên tả hữu có Quan Bình, Châu Thương đứng hầu. Hai gian bên là tượng ngựa Xích Thố cùng khám thờ những bậc tiền hiền đã có công khai mở. Còn hậu cung thờ Quan Âm Nam Hải, Địa Tạng, Chuẩn Đe và bức họa Đạt Ma Thiền sư qua sông. Ngoài ra ở hậu cung, bên tả thờ cụm tượng bà Thiên Hậu cùng Thiên Lý Nhãn, Thiên Lý Nhĩ, Cửu Thiên Huyền N, bên hữu thờ cụm tượng Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ. Tất cả những pho tượng này đều được chế tác công phu, sinh động, nhiều kích cỡ và với nhiều chất liệu khác nhau như: đồng, gỗ, đất nung. Các tài liệu hiện có ở chùa cho biết, trước đây, chùa Ông không thờ các bà. Bởi vào thế kỷ XVII, khi người Hoa đến Thu Xà, họ đã xây dựng nên hai ngôi chùa là chùa Ông và chùa Bà riêng biệt. Chùa Bà nằm ở gần cửa Lở, thờ bà Thiên Hậu, Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ11, nhưng một thời gian sau, khu đất nơi xây dựng chùa bà bị sạt lở nên người dân đã vớt tượng của bà mang về thờ trong hậu cung ở chùa Ông, trong đó có tượng bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ như hiện thấy.Theo truyền thuyết dân gian, bà Kim Hoa Thánh Mẫu và mười hai bà mụ là những vị thần phù trợ cho việc sinh đẻ, mang thai của người phụ nữ... Đó chính là lý do mà cho đến ngày nay, người dân đến chùa Ông ngoài việc xin xăm ông, còn nguyện cầu bà phù hộ độ trì bình an, con cháu khỏe mạnh, là nơi gửi gắm niềm tin, khát vọng của những người hiếm muộn hoặc muốn cầu con trai.

Ý kiến khách hàng