Tượng Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn tại TheGioiTamLinh.vn. Thỉnh tiên tượng Lôi Tổ gọi 0993.103.103 để được tư vấn...

Tiên tượng Lôi Tổ Phổ Hoá Thiên Tôn tại TheGioiTamLinh.vn
LÔI THANH PHỔ HOÁ TÔN
Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn được xem là hóa thân của Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn; một số truyền thống tín nhận là từ Ngọc Thanh Chân Vương Nam Cực Trường Sinh Đại Đế sở hóa. Song, dù ở truyền thống nào, có thể khẳng định Lôi Tổ là do Đạo Khí sở hóa mà thành, từ nơi Đại Hóa mà hiển hiện chí chân vậy! Bởi thế, trong “Ngọc Xu Kinh” - một trong “Tứ phẩm Tiên Kinh” đã mô tả Phổ Hóa Thiên Tôn ngự tại Ngọc Thanh Thiên mà tuyên thuyết diệu điển.
Lôi Tổ tay cử Kim Quang Như Ý, thân toạ trên Long Phượng Chi Đài. Đài toạ này có bảy cấp, đều là trân bảo trang hoàng. Khi Thiên Tôn giá lâm thời có bạch hạc, sư tử, uy nghi tiết trượng dẫn đường; Thanh Long Bạch Hổ, Lục Giáp Lục Đinh thị vệ hai bên. Lôi Sư Hạo Ông tán thán Ngài rằng: “Thiên Tôn đại từ, Thiên Tôn đại thánh, là Cha quần sinh, là Thầy vạn linh!”. Ngài quản lãnh Ngọc Tiêu Phủ - tức Cao Thượng Thần Tiêu Thiên Trung Ngọc Thanh Chân Vương Phủ, tại trên Tam Thập Lục Thiên.
Nơi Ngọc Tiêu Phủ có năm điện nhỏ, phía Đông hiệu Dược Châu, phía Tây hiệu Bích Ngọc, phía Bắc hiệu Thanh Hoa, phía Nam hiệu Ngưng Thần, ở giữa hiệu Trường Sinh. Tại Ngọc Tiêu Phủ lại có Thái Nhất Nội Viện, Khả Hàn Trung Ti, Đông-Tây Nhị Đài, Tứ Tào Tứ Cục, ngoài ra có Đại Phạm Tử Vi Các, Tiên Đô Hỏa Lôi Quán. Nơi Ngọc Tiêu Phủ có Lôi thần chư bộ, quan quân tướng lại, trên thống lãnh Tam Thập Lục Thiên, dưới trấn Tam Thập Lục Lũy. Phàm việc thiện ác của thế nhân có Tam Thập Lục Lũy Hoàng Quân giám sát, thời tấu trình Thần Tiêu Ngọc Phủ xử trí.
Trong Đạo giáo, Lôi Đình, cá biệt hơn là Tiên Thiên Lôi Đình được hiển hiện ở nơi Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn. Lôi Đình chính là hình tượng của “uy quyền Đại Đạo”. Trong đó, Tiên Thiên Lôi Đình đại diện cho uy quyền khai sinh khởi đầu, lúc nhất điểm nguyên dương khởi phát xua tan hồng mông thăm thẳm; Hậu Thiên Lôi Đình là lúc Dương cực Âm sinh, đủ đầy nhị khí, quần phẩm hình thành và đào dục càn khôn, dõi theo tạo vật. Lôi Đình do Lôi Tổ chủ chưởng vậy!
Lôi Tổ chưởng ác Lôi Đình, cư tại Cửu Thiên Ứng Nguyên Phủ. Khi xưa, Lôi Sư Hạo Ông cúng kính hỏi Lôi Tổ về nhân duyên thượng thăng Ngọc Tiêu. Thiên Tôn liền hiển tướng tay chấp chưởng Kim Quang Như Ý để giảng giải Lôi Pháp. Tục truyền Tổ thuyết kinh chẳng mở miệng, ám chỉ Lôi Uy Đại Đạo dõi theo quần phẩm, vô vi tự nhiên chẳng cần náo động. Bên cạnh đó, Lôi Tổ còn hiển pháp tướng thần uy, hiển tam nhãn thấu tường tam giới, thân mặc bảo giáp, tay cầm pháp tiên, ngự trên hỏa kỳ lân, xung quanh chư lôi soái tướng phù trì vệ hộ. Cả hai pháp tướng Lôi Tổ đều biểu thị sự ứng hóa tùy thời của Đại Đạo, mà cá biệt hơn là Lôi Uy!
Mỗi dịp ngày mồng 6 hằng tháng và nhằm ngày Tân trong các hoa giáp, Lôi Tổ cùng các tướng tuần du tam giới, sát hạch chúng sinh thiện ác công quá và khu trừ yêu ma. Ngọc Xu Bảo Kinh thuật chuyện Thiên Tôn khi xưa trước Nguyên Thủy Hư Hoàng mà phát thanh tịnh nguyện rằng ở nơi nhân thế, nhất thiết chúng sinh, nghe biết xưng tán danh hiệu Thiên Tôn, thời đều được phù trì. Ngài nói: “Nếu tương lai tại thế có chúng sinh, nghe được danh hiệu của Thần, có thể minh tâm mặc tưởng, tác niệm Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, hoặc một biến, hoặc 57 biến, hoặc trăm ngàn biến, Thần liền hóa hình thập phương, vận tâm thấu suốt tam giới, để kẻ xưng danh hiệu đều được như ý toại tâm”.
THƯỜNG NIỆM PHỔ HOÁ TÔN
Tháng sáu Nông lịch, nhằm Lôi Trai Nguyệt. Lôi Nguyệt, ấy là dịp đạo chúng xốc lại tinh thần tu trì, cũng là khi thường tín niệm Thiên Tôn ngay trong những giây phút đời sống. Thường niệm danh hiệu Thiên Tôn, không phải là buông bỏ đời mình trong mê tín, lầm lạc. Việc niệm danh hiệu cũng đồng thời yêu cầu sự tự thân sám hối, đoạn ác tu thiện, một lòng kiền thành liên lỉ. Niệm thánh hiệu, hơn hết là ta thừa nhận Đại Đạo đến với đời mình trong mọi hoàn cảnh, mọi giai đoạn, dù vui hay buồn, thăng hoa hay đoạ lạc, vinh quang hay tủi nhục. Ở mọi phương diện, mọi hoàn cảnh, ta có Đạo là Cha Cả đỡ đần, là bạn đường nâng đỡ, là điểm tựa muôn thuở miên trường đời mình. Nhờ đó, hồn thần có thể đắc đổ an ninh, ta được chung hưởng vinh quang nơi Ngài.
Phàm kẻ nào siêng năng trì tụng danh hiệu, thời nhận được các chủng công đức thiện hảo:
Đệ nhất: Thân tâm như ý, hóa giải những điều bất thuận.
Đệ nhị: Loại trừ tam tai ách nạn, sở cầu tất ứng.
Đệ tam: Có thể triệu Cửu Linh cùng Tam Tinh.
Đệ tứ: Cải thiện vận khí, hóa giải hung sát, giải trừ thiên địa thủy ngũ phương tứ thời nhất thiết tai nạn.
Đệ ngũ: Trị liệu bệnh tật, kiện khang trường thọ.
Đệ lục: Hóa oán, giải nguyền rủa, chú trớ.
Đệ thất: Tiêu trừ thị phi khẩu nghiệp.
Đệ bát: Xây dựng thuận lợi, chẳng phạm các sát nạn.
Đệ cửu: Hoà giải hôn nhân bất thuận, hóa trừ đào hoa cô quả.
Đệ thập: Khả thuận lợi bảo hộ sinh sản, cầu tử tôn được như ý.
Thập nhất: Trừ yêu trừ quái, giải hung mộng.
Thập nhị: Trừ cổ, tiêu trừ ôn dịch.
Thập tam: Có thể độ vong nhân thăng thiên, vãng sinh.
Thập tứ: Cầu mưa móc tiết trời ổn định.
Thập ngũ: Trừ tam tai cửu nạn, diên niên ích thọ
Thập lục: Tiêu tai diệt tội, trừ chướng hóa khiên.
Dịp Lôi Trai Nguyệt, đạo chúng nên giữ lấy trước nhất là trai tâm, ngoại tưởng bất nhập, nội tưởng bất xuất, khiển dục thanh tịnh, giảm thiểu các hoạt động vui chơi phóng túng; Thứ hai, hạn chế sát sinh, rượu thịt, bảo dưỡng chân nguyên; Thứ ba, trì tụng Lôi Tổ thánh hiệu, bảo cáo; Thứ tư, hành thiện, bố thí giúp người.
Chí tâm xưng niệm: Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn.
LÔI NGUYỆT TU TRAI
Nếu Giới được xem như là những bộ luật, điều luật nhằm định hướng người tu hành có những động thái, suy tư phù hợp với lẽ Đạo, thì việc Trai giới chính là hành động cụ thể nhằm thực hiện Giới một cách tinh nghiêm, cẩn trọng. Kẻ học Đạo trước cần tu trai. Tu trai hay Hành trai là những cử chỉ giúp bên ngoài không nhiễm trần cấu, bên trong ngũ tạng thanh lương, từ đó mà nuôi dưỡng chân tính, rèn luyện kiên tâm. Hành trai tinh nghiêm cẩn trọng, không phạm cấm giới sẽ được phúc “Dữ Đạo hợp chân” vậy. Trương Thiên Sư dạy: “Kẻ học Đạo không tu trai, mờ mịt giống như đi đêm mà không có đèn rọi”.
Trong Đạo giáo, kiến lập đàn tràng, trai tiếu lễ tụng, ngoài việc chuẩn bị đãng uế nơi chốn còn phải tẩy tịnh người vật. Toàn Chân Đãng Uế Khoa Nghi chép: “Thiết lự đàn tràng nội ngoại, nhân vật vãng lai, uế tạp chi khí, nan dĩ giáng cách cao chân”. Thiết nghĩ đàn tràng trong ngoài, người vật qua lại, uế khí hỗn tạp nên khó lòng mà thỉnh cao chân giáng hạ. Vậy nên, đàn tràng cần phải dùng pháp thủy mà tẩy đãng. Uế tạp bên ngoài dùng Mộc dục mà gột rửa, trọc nhơ bên trong tất lấy tu trai làm đầu!
“Trai”, tiếng Việt trại âm gọi là “Chay”. Thời nay, việc “Chay giới” được nhìn nhận trong tâm thức con người đa phần chỉ nói đến ăn uống (không phạm rượu thịt). Tuy nhiên, cần phải hiểu một cách toàn diện hơn rằng: Tu trai là việc thi hành trai giới, tuân thủ các giới luật tinh nghiêm hầu cầm giữ, chế khiển dục tình. Việc trai giới cần giữ tối thiểu 4 phương diện: Thực trai, Y trai, Trú trai và Ngôn trai.
Thứ nhất là Thực trai. Thực trai là chế khiển ăn uống. Việc ăn uống là đại sự trong đời. Ăn uống nhằm duy trì sự sống. Bất kể người hay vật, thiếu ăn thiếu uống cũng trở nên hao kiệt, úa tàn. Tu Thực trai cốt là để bản thân không trở nên bị động, phụ thuộc vào việc ăn uống mà sinh ra chướng ngại. Kẻ tu hành nuôi dưỡng lòng từ bi phần nào được thể hiện qua việc ăn chay - không sát sinh. Điều này còn giúp họ tránh được các ác nghiệp một cách trực tiếp hay gián tiếp. Thực trai còn là không ăn phi thời (ngoài bữa chính). Dù bữa ăn ngoài (ăn xế, ăn chiều) có là đồ dùng chay đi nữa cũng bị cấm ngăn. Bởi lẽ, các Tổ quan niệm việc ăn ba bữa trong một ngày đã là đủ đầy đối với một người. Việc ăn phi thời cũng là một biểu hiện của dục – sự thèm khát ăn uống, không tiết độ chính mình. Nhiều người viện cớ là do “nhanh đói” hoặc là “buồn miệng” để ngụy biện cho lối ăn phi thời. Kì thực, ăn ngoài bữa là dựa trên sở thích, ham muốn cá nhân đối với thực phẩm. Nếu quả là do đói, thì bữa chính nên dùng no, hoặc có thể uống các thức bổ sung. Còn lý do “buồn miệng” thì nên xem xét tiết chế chính mình, kiềm hãm bản thân để không quá phụ thuộc vào ăn uống. Thực trai còn là không ăn Ngũ vị tân (hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu), bởi các thức này cay nồng, bốc mùi xú uế, sợ kinh động thần tượng, kinh văn. Hơn hết là các thức này làm gia tăng hoocmon ham muốn dục tình trong con người. Ngoài ra, thực trai còn là không uống rượu, bia, đồ có cồn hay chất kích thích, vì chúng làm mất chân tính, đưa con người vào đường lầm lỡ, tuy nhiên cũng cần phải xét các trường hợp đặc biệt (như rượu chữa bệnh, chất kích thích dùng cho mục đích y khoa). Cơ bản như trên là Thực trai vậy.
Thứ hai là Y trai. Con người khác vật chỗ biết lấy cây cỏ, lông tơ mà dệt áo quần gấm góc. Trước là giữ nhiệt, sau là giữ lễ, tránh khơi gợi dục tình. Y trai là điều tiết việc mặc quần áo, phục sắc. Ăn mặc phải phù hợp thời điểm, nơi chốn, chớ vì sở thích cá nhân mà ăn vận lố lăng, xuề xòa. Lại nữa, tiên hiền nói: “Y phục xứng kỳ đức”, y phục xứng với đức độ mà người ta đang khoác mặc. Trong Đạo giáo, các y phục ngoài là áo quần mang trên người, còn biểu thị nhiều ý nhị nhiệm lý. Đạo bào thêu bát quái, ngũ nhạc chân hình đồ, nhật nguyệt tinh, Tam Thanh, Hoàng đình chẳng phải là cho đẹp mã, mà đích để biểu thị phẩm giá người bận, cũng là nêu lên trọng trách của kẻ ấy với đạo chúng. Cho đến Thanh hải y mặc hàng ngày, màu xanh đậm thể hiện thủy dương chân khí, vạt trái đè vạt phải biểu trưng lấy dương bão âm, bên hông có 3 nút nhằm thể hiện quy y Đạo Kinh Sư Tam bảo. Thảy thảy đều ẩn tàng nhiệm lý sâu xa. Bên cạnh đó, đạo sĩ cũng tránh sử dụng phục sức bằng vàng bạc quý giá, xa hoa lộng lẫy. Đạo sĩ đến trâm cài tóc cũng chẳng làm bằng ngọc hay vàng hay bạc, chẳng được khắc hoa, khắc hạc. Việc không dùng đến các phục sức quý giá cốt để không vướng vào chấp ngã, cũng là tránh khơi dậy lòng tham của chúng nhân và giữ cho mình thuần phác giản dị vậy!
Thứ ba là Trú trai. Trú trai được thể hiện qua việc tiết độ nơi đi chốn ở. Con người là một cá thể giữa một đoàn thể, là một cá nhân trong xã hội. Vậy nên nhu cầu đi lại, giao thiệp là điều cần thiết ở đời. Tuy nhiên, Đạo sĩ không được lui tới nơi uế tạp, giao du với hàng phi loại, nhất là bảo vệ chính mình khỏi hiểm nguy, nữa là tránh tiêm nhiễm những thói xấu điều hư trong đời. Điển cố “Mạnh mẫu tam thiên” cũng là tích cổ nhân truyền lại, răn dạy con người nên biết chọn chốn mà lui tới. Lại nữa, Đẩu Chân Thất Giới dạy rằng “Không giao du hàng phi loại”, nghĩa là đạo sĩ không được lui tới chốn trái lẽ Đạo, giao du với những kẻ phi Đạo Đức. Việc đi lại, giao thiệp với người ngoài cũng cần được “trai giới”. Thuở xưa, trừ khi có lý do đặc biệt, đạo sĩ không được phép bước ra cửa Linh quan điện, ám chỉ rằng Đạo quán là một tầng thành quách bảo vệ, đồng thời cũng là mộ phần, táng an xác thân phàm tục của họ. Đây là nơi họ được yên ổn bởi khiên che thuẫn đỡ là Chính pháp, lấy lòng sùng kính tập thể làm vũ khí và đời sống tu hành làm thao trường lành thánh. Đây là mồ chôn của Tam thi, bởi lẽ, Thân Tâm Ý của họ hằng ngày được thanh luyện và quán chiếu hầu trở tên tinh khiết, trong trẻo. Với người thiện tín, việc đi lại, quan hệ quả thực là quan trọng, cần thiết và không thể tránh khỏi, nhưng trộm nghĩ phải hết ý cẩn trọng, biện phân lựa chọn kỹ càng khi đặt để nơi dừng chân cho mình.
Thứ tư là Ngôn trai. Ngôn trai là tránh các tội nghiệp của khẩu: Nói dối, thay trắng đổi đen, mạt sát chửi rủa, ngôn từ hoa mỹ nhằm tư lợi,… Ngôn trai là việc đạo chúng điều tiết lời ăn tiếng nói sao cho chánh trực, hòa nhã. Ngôn từ hiện hữu dưới hình thức thanh âm, ký hiệu, chữ viết nhằm truyền tải thông tin và bày tỏ tâm tư, suy tưởng cá nhân (gọi là thông tin đặc biệt). Có lời nói khiến con người gắn kết thâm tình, cũng có lời nói gây chia rẽ, chửi rủa, thậm chí là giết chóc. Đạo kia, có khi một lời đủ giác ngộ, nửa câu đủ thấu huyền. Con người ấy, một lời mà có thể khuyên người đắc thánh, nhưng cũng có thể đưa người ta đến tận cùng đau khổ. Đó là phương tiện bộc lộ hết cả Thân, Tâm, Ý của ta. Việc giữ cho lời nói hòa nhã, giản dị quả thực là một điều khó khăn, đòi hỏi lòng kiên thành và được thực hiện liên lỉ.
Đạo giáo có một trai kỳ diễn ra trong vòng 10 ngày theo hình thức: 7 trai, 3 tiếu. 7 ngày đầu gọi là “tán trai”, 3 ngày sau là “trí trai”. Ngày đầu tiên của kỳ trai này, đạo chúng thiết lập đàn tràng, thực hiện khai đàn. Kế đó, đạo chúng bắt đầu hành trai giữ giới tinh nghiêm. Số 7 biểu trưng cho “thiếu dương”, mô tả việc đạo chúng sau khi chìm đắm trong tĩnh lặng, giữ giới nghiêm minh, như rằng được khởi sinh con người mới. Sau 7 ngày đó, đạo chúng mới lập pháp hội diễn ra trong 3 ngày cuối. Điều này biểu đạt rằng sau 7 ngày tĩnh lặng, sám hối, thì họ đã có đủ tư cách diện kiến chư chân. Việc tu trai không chỉ đơn thuần là tích đức, nuôi dưỡng lòng từ bi cho mình, mà nó còn là việc tạo dựng mối liên kết bền chặt với các Đấng Thần Minh.
LÔI TRAI NIỆM THÁNH
Từ mồng một tháng Sáu đến hai mươi tư tháng Sáu (Nông lịch), Đạo giáo cử hành Lôi Trai Nguyệt, tôn kính trọng thể Cửu Thiên Trinh Minh Đại Thánh Lôi Thanh Phổ Hoá Thiên Tôn. Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn cùng Nam Cực Trường Sinh Đại Đế Diên Thọ Ích Toán Thiên Tôn, Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Cửu Thiên Lôi Tổ Đại Đế Trừ Tai Lợi Vật Thiên Tôn, Thái Ất Đại Thiên Đế Bảo Chế Kiếp Vận Thiên Tôn, Lục Thiên Đỗng Uyên Đại Đế Phục Ma Thái Nhất Thiên Tôn, Lục Ba Thiên Chủ Đế Quân Phổ Thi Pháp Nhuận Thiên Tôn, Cửu Thiên Thanh Thành Khả Hàn Trượng Nhân Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn, Cửu Thiên Thải Phóng Chân Quân Ứng Nguyên Bảo Vận Diệu Hóa Thiên Tôn, hợp xưng Cửu Tiêu Cửu Thần Thượng Đế.
Trong “Ngọc Xu Bảo Sám” có chép:
“Cung kính xưng tụng Cửu Thiên Trinh Minh Đại Thánh, hóa thân của Ngọc Thanh Chân Vương. Ngài hoá thân khắp mười phương, vận lòng khắp ba cõi, bạt khổ độ nạn chúng sinh, cứu vớt kẻ trầm luân nơi hạ giới. Ba mươi sáu tầng trời, mỗi nơi đều có uy quyền Ngài chủ tể; một nghìn năm trăm kiếp, mỗi kiếp đều vận hóa lòng từ bi. Nếu ai chí thành xưng niệm, thì muôn điều sở nguyện đều được tùy tâm như ý”. Khi xưa, Ngài từng phát đại nguyện trước Nguyên Thủy Thiên Tôn nơi cõi Đại La rằng: “Lấy tâm thanh tịnh, phát nguyện rộng lớn: nguyện cho đời vị lai, hết thảy chúng sinh, thiên long thần quỷ, chỉ cần nhất tâm xưng danh hiệu, đều khiến họ siêu thoát. Nếu còn kẻ nào không được như nguyện, thì chính thân sẽ thân hành cứu độ”.
Bạch Ngọc Thiềm Tổ Sư lý giải danh hiệu Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hoá Thiên Tôn rằng: “Cửu” ấy tức Dương số, lại là Thiên Đạo vậy, chủ vào Chấn Cung, lại có thuyết nói Đông Nam có Cửu Thiên, tức là chốn các Lôi Sư xuất nhập vào ra. “Thiên” nghĩa là khí chí đại, chí thánh, vô cực, vô vi. “Ứng” tức không có vật nào không thừa thiên mệnh mà sinh thành. “Nguyên” là chí đại, đứng đầu vạn thiện, là chủ Tứ thời, là đầu mối Ngũ hành. “Lôi” thị Thiên Lệnh, quyền chưởng chấp sinh sát, động tĩnh, khó lòng thấu tỏ, vạn thần đều nương ấy phụng hành. “Thanh” tức sinh hóa, vạn vật đắc Lôi Chấn Thanh mà manh nha khởi sinh. “Phổ” giả, là trên trời dưới đất, tứ duy bát hoang, cho đến vô hình hữu hình. “Hóa” tức Thiên Đạo Âm Dương, vận hành hóa hiện, lại là từ Vô thành Hữu, từ Hữu thành Vô, hóa sinh vạn vật. “Thiên Tôn” là danh xưng chí đại chí quý!
Trong tháng này, đạo chúng năng trì niệm bảo cáo, danh hiệu của Lôi Tổ, có thể hoạch phúc vô lượng. Căn cứ theo căn cư “Đạo tạng - Pháp hải di châu quyển nhất”: Thập tự thiên kinh, còn gọi thập tự thánh hiệu. Kiền thành tụng niệm, đại tiểu chư ách, đồng thời giải thoát. Tai nan đẳng khổ, tất giai tiêu diệt. Gặp hung hóa cát, ngộ nan thành tường, quảng đại linh cảm, bất khả tư nghị.
Chí tâm quy mệnh lễ: Cửu Thiên Ứng Nguyên Phủ, Vô Thượng Ngọc Thanh Vương, hóa hình nhi mãn thập phương, đàm đạo nhi phu Cửu Phượng. Tam thập lục thiên chi thượng, duyệt bảo cấp, khảo Quỳnh Thư; thiên ngũ bách kiếp chi tiên, vị chính chân, quyền đại hóa. Thủ cử Kim Quang Như Ý, tuyên thuyết Ngọc Xu Bảo Kinh; bất thuận hóa tác vi trần, phát hào tật như phong hỏa. Dĩ thanh tịnh tâm nhi hoằng đại nguyện, dĩ trí tuệ lực nhi phục chư ma. Tổng ti Ngũ Lôi, vận tâm Tam Giới, quần sinh phụ, vạn linh sư, Đại Thánh Đại Từ, Chí Hoàng Chí Đạo Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn