Tượng Nam Đẩu Tinh Quân, Bắc Đẩu Tinh Quân ( Nam đấu chú sinh, bắc đấu chú tử)
Cùng TheGioiTamLinh.vn tìm hiểu Nam Đẩu Tinh Quân và Bắc Đẩu Tinh Quân qua bài viết của Đạo sĩ Vô Danh Tử
Nam Đẩu Tinh Quân là một vị thần trong truyền thống lâu đời của Đạo giáo. Nam Đẩu là đẩu tú trong Nhị Thập Bát Tú, nằm trong chòm Huyền Vũ, được đặt tên là Nam Đẩu bởi đối với chòm Bắc Đẩu. Từ xa xưa, niềm tin về Nam - Bắc Đẩu Tinh Quân đã hiện hữu trong văn hóa đại chúng và tôn giáo.
Nam Đẩu Tinh Quân cùng Bắc Đẩu Tinh Quân là những vị thần quan trọng trong niềm tin của con người Á Đông nói chung và người Hán nói riêng. Nam Đẩu Tinh Quân chủ chưởng chòm Nam Đẩu Lục Tinh. Tương truyền, Nam Đẩu chưởng lý nhân loại thọ mệnh trường đoản, tục truyền: "Nam đấu chú sinh, bắc đấu chú tử”. Dương Quýnh trong “Hồn thiên phú”: “Nam đẩu chủ thọ lộc, đông bích chủ văn chương”. Có thuyết cho rằng Nam Đẩu Tinh Quân cùng Nam Cực Tiên Ông là đồng thần nhưng dị danh.
Nam Đẩu lục tinh quân, chính thị quản lý thế gian nhất thiết nhân, yêu, linh, thần, tiên đẳng sinh linh. Một số truyền thống cho rằng Nam Cực Trường Sinh Đại Đế Ngọc Thanh Chân Vương là vị quản hạt nam đẩu lục tinh quân. Vì vậy lục cung của Nam Đẩu đều thuộc thẩm quyền của Nam Cực Trường Sinh Đại Đế.
Đệ nhất thiên phủ cung: Ti mệnh tinh quân
Đệ nhị thiên tương cung: Ti lộc tinh quân
Đệ tam thiên lương cung: Diên thọ tinh quân
Đệ tứ thiên đồng cung: Ích toán tinh quân
Đệ ngũ thiên xu cung: Độ ách tinh quân
Đệ lục thiên cơ cung: Thượng sinh tinh quân
“Tinh kinh” viết: “Nam đấu lục tinh, chủ thiên tử thọ mệnh, dã chủ tể tương tước lộc chi vị.” Sau dân gian lưu hành “Nam đấu chủ sinh, bắc đấu chủ tử”, Đạo giáo tiếp thu hình ảnh Nam Đẩu Lục Tinh trở thành vị tư mệnh, chủ thọ đích Lục vị tinh quân. “Thượng Thanh Kinh” nói: Nam đẩu lục tinh, đệ nhất thiên phủ cung, Ti mệnh tinh quân; Đệ nhị thiên tương cung, Ti lộc tinh quân; Đệ tam thiên lương cung, Diên thọ tinh quân; Đệ tứ thiên đồng cung, Ích toán tinh quân; Đệ ngũ thiên xu cung, Độ ách tinh quân; Đệ lục thiên cơ cung, Thượng sinh tinh quân, tổng xưng Lục ti tinh quân. Nơi chuyên môn phụng thờ, tế tự Nam Đẩu tinh quân sẽ xưng Nam Đẩu Tinh Quân miếu. Vì Nam Đẩu chuyên chưởng sinh tồn, nên dân gian xưng là “Diên thọ ti”.
Nam Đẩu Tinh Quân độ nhân trường thọ là một câu chuyện dân gian lưu truyền thời Tam Quốc, nước Nguỵ có thuật sĩ tên Quản Lộ, giỏi thiên văn, tường tướng số. Một hôm Quản Lộ gặp Nhan Siêu (có nơi nói Triệu Nhan), thấy trên mặt hiện “Chủ yêu khí” biết y sẽ chết sớm. Nhan Siêu mới 19 tuổi, nghe Quản Lộ nói kinh hãi khôn cùng, bèn nhờ người tìm cách giúp cho. Quản Lộ nói: “Ngươi về kiếm lấy một bình rượu ngon, một đĩa thịt hươu, ngày mai đem vào trong núi Nam sơn, tìm đến một chỗ gốc cây to, có hai người ngồi đánh cờ trên tảng đá lớn. Một người hướng mặt về nam, mặc áo bào trắng, mặt mũi dữ dội; một người hướng mặt về bắc, mặc áo bào đỏ, mặt mũi đẹp đẽ. Ngươi nên chờ lúc hai người đánh cờ đang mê mải, thì quỳ dâng rượu và thịt hươu lên; đợi ăn uống xong, sẽ khóc mà cầu thọ, thì chắc là được sống lâu. Nhưng chớ có nói là ta xúi". Hôm sau, Nhan Siêu đem rượu và thịt vào núi Nam sơn; quả thấy có hai người ngồi trên tảng đá dưới gốc cây đánh cờ, không màn chuyện xung quanh. Nhan Siêu quỳ dưới đất dâng rượu lên. Cuộc cờ lúc cao hứng, thấy có rượu thì cứ uống hết nhẵn, bấy giờ Nhan Siêu mới lạy xuống cầu thọ. Hai người giật mình. Người mặc áo đỏ nói rằng: "Đây hẳn là Quản Lộ xúi đây, nhưng chúng ta đã trót dùng, thì phải thương nó". Người mặc áo trắng bèn giở quyển sổ bên mình ra xem, rồi bảo với Triệu Nhan rằng "Ngươi năm nay 19 tuổi, sắp chết, bây giờ thêm một nét thành 90 tuổi. Ngươi về bảo với Quản Lộ, từ rày không được tiết lộ thiên cơ ra nữa, nếu không chừa đi thì tất trời phạt!". Người mặc áo đỏ cầm bút viết một chữ, đoạn có cơn gió thơm, hai người hóa bạch hạc bay vút lên trời. Triệu Nhan về hỏi lại Quản Lộ. Lộ nói: "Ông mặc áo đỏ là sao Nam đẩu, ông mặc áo trắng là sao Bắc đẩu". Đích thị chẳng có vị thần tiên nào hạ phàm dùng rượu thịt của chúng sinh để rồi cho thêm thọ, nhưng truyền thuyết dân gian là vậy, vừa thể hiện sự màu nhiệm, vừa bày tỏ niềm ao ước của dân chúng về một cuộc sống ấm no, phúc thọ tràn đầy, không bị yểu mệnh. Đó cũng là nét đặc trưng của văn học truyền thuyết.
Trên bầu trời phương Bắc, các sao thường có độ sáng khả kiến không cao. Khi nhìn lên, ta hầu như chỉ thấy một màu đen tối. Tuy nhiên khi để ý kỹ ta thấy có bảy vì sao mà độ sáng của nó vượt trội hơn so với các sao chung quanh. Chúng xếp thành một hình dạng như thể cái muôi nên gọi là Đẩu vậy! Từ miệng muôi đến cán muôi, tên gọi lần lượt là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân. Sau bao năm tháng theo dõi, cổ nhân đúc kết được một số vấn đề như:
1, Biện phân phương hướng
Cổ nhân dạy: 朝看太阳辨西东,夜望北斗知北南 - Triều khán Thái dương biện Tây Đông, dạ vọng Bắc đẩu tri Bắc Nam. (Ban ngày dựa vào hướng Mặt trời mọc lặn mà xác định Đông Tây. Đêm thì tìm kiếm Bắc Đẩu để biết được Nam Bắc). Khi chưa phát kiến la bàn, diêu chiêm thiên tượng là cách thế duy nhất giúp ta xác định phương hướng. Khi trời đêm buông xuống, lại còn lạc nơi hoang vu hẻo lánh không rõ mô tê, không nương vào Bắc Đẩu quả thực không thể định hướng. Lại nữa, khi các thủy thủ ra khơi dài ngày trên biển, bốn bề là nước thẳm chẳng đâu làm mốc định lại nhiều khi la bàn nam châm bị nhiễu loạn thì không dưạ vào tinh tú thì chỉ có nước phó mặc cho trời.
Bắc Thần (Bắc Cực) ngự nơi Trung Thiên, tôn cư Bắc vị. Nhật nguyệt theo năm tháng ngày giờ có thể sai lạc quỹ đạo. Tuy nhiên, Bắc Thần luôn ngự Chính bắc chẳng bao giờ sai lệch 1 ly. Nhân vì lẽ ấy, phương Bắc nơi địa đồ không lấy từ cực Bắc từ trường nhưng lấy theo Bắc Thần. Ai có kinh nghiệm xem sao trời sẽ biết: không thể từ giữa hư không mà nhận ra ngay Bắc Thần. Một phần vì yếu sáng nhỏ bé, một phần là ở một nơi thế thấp dễ bị ánh sáng gây nhiễu thị trường. Tuy nhiên, thiên văn giới có một tiểu pháp truyền tụng muôn đời rằng: Từ Cự Môn chiếu về hướng Tham Lang 5 lần khoảng cách 2 sao đó thì gặp được Bắc Thần. Bắc Đẩu thất tinh thì nổi bật tại phương Bắc vậy nên ai cũng đều nhờ Bắc Đẩu mà gặp Bắc Thần.
Đây có thể là một dấu chỉ sống động cho lý lẽ: Chân lý thì êm dịu và trầm lặng. Đôi khi phải nhờ những điều tuy không đúng đắn nhưng sáng láng để làm người ta có thể gặp được chân lý.
2, Xác định mùa
Lịch không thể tạo dựng trong một thời gian ngắn. Hẳn cổ nhân đã phải tiêu tốn cả chục hay thậm chí hàng trăm đời người để lịch pháp Nông lịch có thể hoàn thiện và đến ngày nay vẫn có thể ứng dụng. Dương lịch được hình thành có thể bằng việc phỏng tính một Chu kỳ thời tiết, mà hiện tại ta gọi là Năm. Khoảng thời gian này được tính toán dựa vào ngày mặt trời lên thiên đỉnh ở ngang chí tuyến. Và số ngày hai lần mặt trời lên thiên đỉnh được xem là số ngày của năm. Với những công cụ cách thế sơ xài thuở xưa, số ngày trong năm bị sai lệch. Nếu sự sai lệch diễn ra, thì vài năm sau hoặc hàng chục năm người ta mới nhận ra sự sai xót qua việc thời tiết trong ngày tháng này không tương đồng với thời tiết trong ngày tháng của 10 năm, 20 năm trước. Đấy là chưa kể những năm thiên tai thất thường hay sự đột biến của khí hậu. Khi phát hiện sai xót, cổ nhân tính lại số ngày trong năm và lại lấy thời gian để thử nghiệm. Cứ thế, không biết bao nhiêu năm trường mới có một bộ dương lịch gần như tuyệt đối chính xác vào thời nay.
Khác với dương lịch, Nông lịch được xây dựng trên cơ sở chu kỳ quay của mặt trăng. Từ lần trăng tròn này đến lần trăng tròn kế tiếp được gọi là 1 nguyệt. Ngày hoàn toàn không có trăng (dù là liềm bén) được coi là ngày thứ 1 trong tháng. Và cứ 12 tháng trôi qua, thời tiết dường như trở lại ban đầu nên coi 1 năm có 12 tháng. Phải biết, mười hai tháng âm lịch ngắn hơn mười hai tháng dương lịch khoảng chín ngày, vì thế sau một thời gian thì khí hậu của ngày này năm nay sẽ khác với khí hậu của cũng ngày này nhưng nhiều năm trước. Vậy, âm lịch tuy thỏa mãn được nền tảng xây dựng ra nó là số ngày đêm của một tháng nhưng không giải quyết được vấn đề thời tiết, vì thế cần phải có một phương pháp dự phòng: Tháng nhuận. Cứ khoảng mỗi ba năm, thời gian chênh lệch khí hậu là vừa bằng một tháng. Vì thế, thêm một tháng nhuận có thể giải quyết.
Trong khi Tây phương tính toán số ngày của một năm dương lịch dựa trên thời gian giữa 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh liền kề, phương Đông cần tìm một dấu hiệu giúp xác định khoảng thời gian để khí hậu lặp lại. Qua kinh nghiệm quan sát lâu dài, cổ nhân phát hiện sự trùng hợp về phương vị của Đẩu bính và thời tiết. Muộn nhất là đến thời Chiến Quốc, Hạt Quan Tử chép: 斗柄指东,天下皆春;斗柄指南,天下皆夏;斗柄指西,天下皆秋;斗柄指北,天下皆冬 - Đẩu bính chỉ Đông, thiên hạ giai Xuân; Đẩu bính chỉ Nam, thiên hạ giai Hạ; Đẩu bính chỉ Tây, thiên hạ giai Thu; Đẩu bính chỉ Bắc, thiên hạ giai Đông. Vào giờ Tí mùa Xuân, Đẩu bính luôn chỉ Đông phương phương. Vậy nếu lấy một mốc cố định nào đó để theo dõi qua các năm, có thể xác nhận được thời gian mà Khí hậu trở lại tương đối chính xác.
Bắc Đẩu Cửu Thần:
Bắc Đẩu Đệ Nhất Thiên Xu Cung. Dương Minh Tham Lang Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Nhị Thiên Toàn Cung. Âm Tinh Cự Môn Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Tam Thiên Cơ Cung. Chân Nhân Lộc Tồn Tinh Quân.
Bắc Đấu Đệ Tứ Thiên Quyền Cung. Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Ngũ Thiên Hành Cung. Đan Nguyên Liêm Trinh Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Lục Khải Dương Cung. Bắc Cực Vũ Khúc Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Thất Diêu Quang Cung. Thiên Quan Phá Quân Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Bát Đỗng Minh Cung. Đỗng Minh Tả Phù Đại Đạo Tinh Quân.
Bắc Đẩu Đệ Cửu Ân Quang Cung. Ân Quang Hữu Bật Thượng Đạo Tinh Quân.
Bắc Đẩu Thần Chú: Bắc Đẩu Cửu Thần. Trung thiên đại thần.Thượng triều kim khuyết. Hạ phúc côn luân. Điều lý cương kỷ. Thống chế càn khôn. Đại Khôi Tham Lang. Cự Môn Lộc Tồn. Văn Khúc Liêm Trinh. Vũ Khúc Phá Quân. Cao Thượng Ngọc Hoàng. Tử Vi Đế Quân. Đại chu thiên giới. Tế nhập vi trần. Hà tai bất diệt. Hà phúc bất trăn. Nguyên Hoàng chính khí. Lai hợp ngã thân. Thiên cang sở chỉ. Trú dạ thường luân. Thiện tín đệ tử. Hiếu đạo cầu linh. Nguyện kiến tôn nghi. Vĩnh bảo trường sinh. Tam Thai: Hư Tinh, Lục Thuần, Khúc Sinh. Sinh ngã dưỡng ngã. Hộ ngã thân hình.
Nam Đẩu Thần Chú: Nam Đẩu lục phủ. Trung thiên đại thần. Thượng triều kim khuyết. Hạ phúc côn luân. Động sát tà ma. Hệ giai thanh tịnh. Trấn Quốc Thiên Phủ. Ti Lục Thiên Tướng. Đệ Tam Thiên Lương. Đại Lý Thiên Cơ.
Cao Thượng Thiên Hoàng. Thiên Xu Đế Quân.
Nhân gian vạn pháp. Giai như vi trần.
Hà tai bất trừ. Bách phúc tề trăn.
Nguyên hoàng chính khí. Dung nhập ngô thân.
Thiên cương chính khí. Trú dạ thường luân.
Phàm gian thế nhân. Hiếu đạo cầu thân.
Nguyện kiến tôn nghi. Vĩnh bảo trường sinh.
Tam Thai linh tính. Lục mạch thường sinh.
Sinh ngã dưỡng ngã. Hộ ngã thân tâm.
Trong “Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bản Mệnh Diên Sinh Chân Kinh”, Thái Thượng Lão Quân ước thúc với Trương Thiên Sư – cũng là ước thúc với tất thảy quần sinh rằng kẻ nào thường trì niệm danh hiệu “Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân” sẽ được giải trừ nhất thiết ách nạn.
Ách nạn, nghịch cảnh bản chất không phải khổ đau. Khổ đau là một tình thái cảm xúc - bất lực khi đối diện với nghịch cảnh. Việc niệm “Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Chân Quân danh hiệu” không hẳn là để con người có thể nhanh chóng chuyển nguy thành an. Mà cốt yếu là quán triệt tư tưởng con người hướng về Đại Đạo trong mọi tình huống. Khi tâm an, lòng định, khi chúng ta đã có Đại Đạo là chỗ dựa niềm tin vững chắc thì ngoại cảnh dù có nguy cấp đến thế nào đi nữa cũng chẳng thể khiến ta khiếp sợ, bấn loạn.
Thanh tĩnh kinh nói: "Tại sao chúng sinh mãi không thể đắc Đạo? Thưa bởi có Vọng Tâm (tâm sai). Nếu có vọng tâm sẽ kinh hại đến thần - ý. Nếu thần - ý bị kinh động, lại càng sinh ra chấp trước vạn vật. Nếu chấp trước vạn vật, tham cầu tăng cao. Nếu có tham cầu thì tự nhiên xuất hiện phiền muộn. Phiền não do những vọng tưởng đó mà khiến Thân - Tâm đều Khổ".
Hành trì danh hiệu “Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Chân Quân” nhằm để biết được bản thân này từ Đạo sinh, thân xác, thần hồn này luôn hướng về Đại Đạo. Chúng sinh có vọng tâm: tức là cái tâm sai. Với đặc tính của tâm là yêu – ghét, nó yêu những thứ tình thú làm thỏa mãn dục vọng, nó ghét những sự thật và chân lý. Chân lý không đơn thuần là sự thật, mà là sự thật của sự thật. Nhưng chân lý thì hay động chạm đến những điều phàm phu. Cái tâm con người trở nên sai lệch khi chạy theo những giá trị tầm thường và quên mất con đường trở về Đại Đạo. Bởi chạy theo những điều thế tục, bởi ham thích những giá trị vô thường nên kinh động đến thần – ý. Toàn Chân không quán triệt tư tưởng diệt dục mà đúng hơn là khiển dục. Khi con người không còn làm chủ chính mình, họ đã trở thành nô lệ của dục vọng. Khi ấy, thần – ý cũng không còn giữ được mức toàn hảo như ban đầu, mà dần dà nó cũng sẽ sa đọa, khom lưng bó gối trước cám dỗ và tư dục.
Ta thử suy tư: Hôm nay tôi đã thỏa mãn tư dục, cám dỗ của mình, nhưng ngay sau đó thôi, tôi lại rơi vào trạng thái thiếu thốn, thèm khát, và tôi lại sinh ra tham cầu cao hơn nữa. Không biết điểm dừng, đó là sự buông xuôi trong bóng tối mịt mù, càng đi sâu càng lạnh. Khi mà tham cầu càng tăng cao, nếu con người không được thỏa mãn với cái tham cầu của mình, ắt sinh ra phiền não. Cũng chính là một sự bất lực, mà bất lực ắt sẽ khổ đau vì cái mình mong muốn mãi mãi không đạt được như ý nguyện.
Như thế phải làm thế nào? Có tâm sai chạy ắt phải để nó trở về tâm đúng - tâm duy nhất hướng về Đại Đạo. Như đã nói, thường niệm danh hiệu là quán triệt tư tưởng hướng về Đại Đạo, duy nhất và mãi mãi duy nhất. Khi anh đã đi trên con đường được soi rọi bởi ánh sáng và chân lý, ắt hẳn sẽ không còn sinh ra khổ đau, nên có thể đạt được phép diên sinh, giải trừ ách nạn.
Quý đạo hữu có thể thường xuyên đọc phần dưới đây:
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải tam tai ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải tứ sát ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải ngũ hành ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải lục hại ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải thất thương ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải bát nạn ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải cửu tinh ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải phu thê ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải nam nữ ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải sản sinh ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải phục liên ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải dịch lệ ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải tật bệnh ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải tinh tà ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải hổ lang ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải trùng xà ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải kiếp tặc ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải gia bổng ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải hoành tử ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải chú thệ ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải thiên la ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải địa võng ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải đao binh ách.
Đại Thánh Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân. Năng giải thủy hỏa ách.
Vu thị Thất Nguyên Quân. Đại thánh thiện thông linh. Tế độ chư ách nan. Siêu xuất khổ chúng sinh. Nhược hữu cấp cáo giả. Trì tụng bảo an bình. Tận bằng sinh bách phúc. Hàm khế vu ngũ hành. Tam hồn đắc an kiện. Tà mị bất năng đình. Ngũ phương giáng chân khí. Vạn phúc tự lai biền. Trường sinh siêu bát nạn. Giai do phụng thất tinh. Sinh sinh thân tự tại. Thế thế bảo thần thanh. Thiện tự quang trung ảnh. Ứng như cốc lí thanh. Tam Nguyên thần cộng hộ. Vạn thánh nhãn đồng minh. Vô tai diệc vô chướng. Vĩnh bảo Đạo tâm ninh.
Nguồn gốc của việc lễ đẩu nguyên khởi từ đời nhà Hán, trong “Bắc Đẩu Tinh Quân Tứ Phúc Chân Kinh” và “Nam Đẩu Diên Thọ Chân Kinh” có chép lại rằng: Vào thời Hán Hoàn Đế, Thái Thượng Lão Quân đã hạ giáng nhân gian, truyền lại cho Trương Đạo Lăng Thiên Sư hai bộ đẩu kinh. Để giải cứu thế nhân, giúp thế nhân tội nghiệp tiêu diệt, tăng gia phúc thọ, Trương Thiên Sư đã truyền thụ lại hai bộ chân kinh này cho thế nhân tụng niệm. Nhân đó đạo chúng có thể biết được Nam Bắc Đẩu tinh quân là người chủ chưởng nhân mệnh, sinh tử, thọ yểu, phú quý, cát hung cũng như việc các ngài có thể tiêu tai kì phúc, trị bệnh diên sinh. Vì vậy mà thế nhân mong cầu được những điều đó thì cần phải thường hướng về các ngài.
Cầu cúng Nam Bắc Đẩu được gọi là bái đẩu. Bái đẩu là một khoa nghi đặc biệt và độc đáo của Đạo giáo nhằm tiêu tai giải ách, kì phúc diên thọ, có danh xưng là “triều chân lễ đẩu”.
Bắc Đẩu thất tinh nắm giữ tạo hóa chi xu ki, là đấng chủ tể nhân thần, lại có thể hồi sinh chú tử, tiêu tai độ ách. Phàm nhân tính mệnh ngũ thể tất nhiên đều thuộc bản mệnh tinh quan chủ chưởng. Nếu kẻ nào gặp phải ngày bản mệnh sinh thần, có thể thanh tịnh thân tâm, phần hương tụng kinh, khấu bái bản mệnh tinh quân của mình, cũng như quảng trần cung dưỡng, thì tự khắc tội nghiệp được tiêu trừ, phúc thọ có thể đến thân, vĩnh viễn xa rời các tai vạ.
Bắc Đẩu Chân Quân còn được gọi là Bắc Đẩu Tinh Quân, hay Bắc Đẩu Thất Nguyên Tinh Quân. Dựa trên “Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bản Mệnh Diên Sinh Chân Kinh” và quyển thứ nhất của “Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bản Mệnh Diên Sinh Chân Kinh chú” có ghi lại, thì Bắc Đẩu Thất Nguyên Tinh Quân bao gồm: Bắc Đẩu Dương Minh Tham Lang Tinh quân; Bắc Đẩu Âm Tinh Cự Môn Tinh Quân; Bắc Đẩu Chân Nhân Lộc Tồn Tinh Quân; Bắc Đẩu Huyền Minh Văn Khúc Tinh Quân; Bắc Đẩu Đan Nguyên Liêm Trinh Tinh Quân; Bắc Đẩu Bắc Cực Vũ Khúc Tinh Quân; Bắc Đẩu Thiên Quan Phá Quân Tinh Quân.
Lễ đẩu, tục xưng bái đẩu chính là hướng về Đẩu Chân mà thiết tiếu, cung dưỡng nhằm cầu diên sinh tứ phúc, tiêu tai giải ách.
Thông thường, việc lễ đẩu thường hướng đến Bắc Đẩu Thất Nguyên Tinh Quân là chủ yếu. Tích truyền rằng Thái Thượng Lão Quân vì thương xót chúng sinh phải chịu nhiều tai ách, khổ não nên vào mồng 7 tháng Giêng, đời vua Vĩnh Thọ nhà Đông Hán, Ngài hạ giáng nhân gian, truyền cho Trương Thiên Sư pháp môn lễ đẩu giải ách diên sinh. Cứ theo pháp này, vào ngày bản mệnh, hoặc mồng 3 và 27 hàng tháng là ngày Bắc Đẩu Chân Quân hạ giáng, nên thiết lập đẩu đàn.
Đẩu dựa trên bảy chủng pháp vật tổ thành: Cái đẩu, đại biểu cho vũ trụ, chư thiên, trời tròn đất vuông, vì vậy Đẩu được tạo dựng thành hình tròn. Gạo, đại biểu cho vô số vì sao mà vũ trụ bao hàm. Vậy nên gạo sẽ được đựng trong một cái đẩu, bên trên đặt các vật như gương, kiếm, kéo, cân và thước. Năm loại pháp khí tượng trưng cho ngũ phương, ngũ linh và ngũ hành. Một ngọn đèn dầu sẽ được đặt giữa năm loại pháp khí ấy, sau khi thắp sáng thì có thể khiến cho “trường minh bất giảm, hàm sinh sinh bất tức, hoán thải nguyên thần chi ý”. Thắp sáng bảy ngọn đẩu đăng như hình tượng Đẩu Chân, tu trai thiết tiếu, chước thủy hiến hoa, kì đảo chúng chân, niệm tụng Bắc Đẩu Thất Nguyên Chân Quân danh hiệu, noi theo Bắc Đẩu Chân Kinh mà lễ bái đẩu chân, thì có thể tiêu tai giải ách, diên sinh hoạch phúc.
“Bắc Đẩu Kinh” có tên đầy đủ là “Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Diên Sinh Chân Kinh”. Niệm “Bắc Đẩu Kinh” theo truyền thống gọi là “Bái đẩu” tức yêu cầu hành trì đúng như pháp môn, đúng như khóa nghi, thành tâm bái lễ Bắc Đẩu Chân Quân. “Bái đẩu”, có thể tiêu tai, giải ách, diên thọ. Truyền thống bái đẩu của Đạo giáo có lịch sử vô cùng lâu đời, chẳng hạn như “Khổng Minh thu dạ tế Bắc Đẩu” của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc cũng đã phản ánh sự tôn thờ cũng như niềm tin của Đạo giáo về Bắc Đẩu, Nam Đẩu, Nhị Thập Bát Tú và các vì sao khác.
Vậy thì bái lễ và hành trì theo Bắc Đẩu chân kinh sẽ được những lợi ích gì? Kinh viết: “nhược chánh tín nam nữ, trị thử chân kinh, trí huệ tính viên, đạo tâm khai ohats, Xuất quần mê kính, nhập hi di môn, quy phụng chân tông, đạt sinh vinh giới. Ư tam nguyên, bát tiết, bản mệnh sinh thần, Bắc Đẩu hạ giáng nhật, nghiêm trí đàn tràng, chuyển kinh trai tiếu, y nhghi hành đạo, kỳ phúc vô biên. Thế thế sinh sinh, bất vi chân tính, bất nhập tà kiến. Trì kinh chi thân, thường trì tụng thất nguyên chân quân sở thuộc tôn hiệu, thiện công viên mãn, diệc hàng cát tường”. Đồng thời, trong kinh cũng chỉ ra rằng: Trì tụng Bắc Đẩu Chân Kinh, khả đắc Thất Nguyên Chân quân hộ hựu, năng giải tam tai, tứ sát, ngũ hành, lục hại, thất thương, bát nạn, cửu hoành,... thiên la địa võng, đao binh, thủy hỏa chư ách. Và lại nói: "Hoặc ư quán vũ, hoặc tại gia đình. Tùy lực kiến công, thỉnh hành pháp sự. Công đức thâm trong, bất khả câu trần. Thiện quả trăn thân, khắc kì an thái". Kẻ nam nữ thiện tín, nếu có việc nguy cấp, niệm tụng Bắc Đẩu Chân kinh sẽ được biến rủi thành may, chuyển họa thành phúc lành. Kinh này còn có thể hồi sinh chú tử, giải ách tiêu tai.
Như vậy, ý tưởng chính của “Bắc Đẩu chân kinh” là gì? Kinh viết: “Nhân thân nan đắc, trung thổ nan sinh. Giả sử đắc sinh, chánh pháp nan ngộ. Đa mê chân đạo, đa nhập tà tông. Đa chủng tội căn, đa tứ xảo trá, đa tứ dâm sát, đa hiếu quần tình, đa túng tham sân, đa trầm địa ngục". Đạo Tổ khai thị diễn pháp: "Ngã kim ai kiến thử đẳng chúng sinh, cố thùy giáo pháp, vị thuyết lương duyên. Lệnh sử tri đạo, tri thân tính mệnh, giai bằng đạo sinh. Liễu ngộ thử nhân, trường sinh nhân đạo, bất sinh vô đạo chi hương, bất đoạn nhân chi căn bản. Canh năng tâm tu chí đạo, tiệm nhập tiên tông, vĩnh li luân hồi". Thông qua điều Đạo Tổ khai thị, việc trì tụng chân kinh với hy vọng nam nữ thiện nhân có thể hiểu biết sáng tỏ ý nghĩa thâm sâu trong kinh điển, có thể siêng năng làm theo Đại Đạo, quảng tích âm công, thì chư ác tuyệt không khởi, chúng thiện được dâng lênh tới trời. Thông qua chân kinh, người tu học có thể đắc pháp diên sinh, đến gần với tiên tông, rời xa luân hồi khổ ải.
Lược dịch từ: 道站
Người dịch: Càn Khôn Tử